Kỹ thuật nuôi cá linh thương phẩm trong ao đất

Cá linh (Cirrhinus jiulleni Sauvage, 1878) thuộc họ cá Chép (Cyprinidae) là loài cá đặc sản đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái và sinh kế tại Đồng bằng sông Cửu Long. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, An Giang có nhiều tiềm năng phát triển mô hình nuôi cá linh thương phẩm trong ao đất.

  1. Chọn địa điểm và điều kiện ao nuôi

Địa điểm nuôi phù hợp quy hoạch nuôi trồng thủy sản của địa phương; cơ sở nuôi tách biệt khu dân cư, nhà máy, bệnh viện, không bị ô nhiễm và có nguồn nước đạt yêu cầu; có nguồn điện ổn định và giao thông thuận tiện vận chuyển thức ăn, cá thương phẩm.

Ao  nên hình vuông hoặc chữ nhật, sâu từ 1,5 m; bờ chắc chắn, không rò rỉ, sạt lở, hang hốc và cao hơn mực nước cao nhất khoảng 0,5 m. Đáy ao bằng phẳng, hơi nghiêng về cống thoát; hệ thống cấp, thoát nước riêng biệt, có khu chứa bùn thải.

Ao nuôi
  1. Cải tạo ao nuôi

Trước khi thả cá, cần tháo cạn nước, phát quang cỏ cây quanh bờ, lấp hang hốc và gia cố bờ ao. Tiến hành sên vét, chỉ để lại lớp bùn đáy khoảng 10 –15 cm. Bón vôi CaO hoặc Ca(OH)₂ với lượng 7 – 10 kg/100 m²; đối với đất phèn có thể tăng lượng vôi gấp đôi. Ao thông thường được phơi đáy 2–3 ngày, riêng ao nhiễm phèn không nên phơi để hạn chế xì phèn.

Sau đó, cấp nước qua túi lọc để hạn chế cá tạp và sinh vật gây hại xâm nhập, duy trì mực nước khoảng 1,5 m. Sau 7 – 10 ngày, tiến hành diệt cá tạp bằng saponine với liều 15 – 20 kg/1.000 m³ nước. Khi pH nước đạt 7 – 8, khử trùng bằng Iodine, BKC hoặc thuốc tím theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Bón vôi cải tạo ao nuôi.

Trước khi thả giống cần gây màu nước nhằm tạo nguồn thức ăn tự nhiên và ổn định môi trường ao. Có thể gây màu nước bằng một trong các cách sau: (1) cám gạo + bột cá + bột đậu nành tỷ lệ 2:1:2, ủ 2 – 3 ngày, bón 3 – 4 kg/1.000 m³/ngày trong 3 ngày; (2) mật rỉ đường + cám gạo + đậu nành tỷ lệ 3:1:3, ủ 12 giờ, bón 2 – 3 kg/1.000 m³/ngày trong 3 ngày; (3) EM thứ cấp theo công thức tài liệu, sử dụng 10 lít/1.000 m², định kỳ 2 ngày/lần kết hợp quạt nước; hoặc (4) sản phẩm gây màu theo hướng dẫn. Khi nước có màu xanh chuối non hoặc màu trà, độ trong khoảng 30–40 cm thì có thể thả giống. Không sử dụng phân chuồng, phân gà để gây màu vì dễ mang mầm bệnh và làm ô nhiễm nước ao.

Kiểm tra môi trường trước khi thả: pH thích hợp từ 7 – 8, nhiệt độ 26 – 30°C, oxy hòa tan từ 3 mg/lít trở lên, tốt nhất 4 – 5 mg/lít; NH₃ dưới 0,01 mg/l.

  1. Chọn giống và thả giống

Cá giống có nguồn gốc rõ ràng, từ cơ sở đủ điều kiện; cá khỏe, đồng đều, màu sắc tươi sáng, hoạt động nhanh, phản ứng tốt, không xây xát. Kích cỡ ≥1 g/con; mật độ 100 con/m².

Cá linh giống.

Ngâm bao cá trong ao 5 – 10 phút để cân bằng nhiệt; thả lúc sáng sớm 6–7 giờ hoặc chiều mát 17–18 giờ, tránh mưa bão/nắng gắt. Cá giống được tắm nước muối 2% trước khi thả.

Thả cá giống.
  1. Thức ăn và phương pháp cho ăn

Cá Linh giống trong điều kiện nuôi có thể ăn được thức ăn tự chế biến hoặc thức ăn hỗn hợp dạng viên nổi.

Trọng lượng cá (g/con)Loại thức ăn sử dụngHàm lượng đạm (%)Lượng cho ăn (% trọng lượng cá/ngày)
<1 – 2Bột, miễng (Ø 0,1 – 0,3 mm)284-5
3 – 5Viên nổi (Ø 2,0 – 3,0 mm)243-4
> 5Viên nổi (Ø 4,0 – 6,0 mm)222-3

Cho ăn tại 2–3 vị trí cố định, ngày 2 lần; thức ăn bảo đảm chất lượng. Bổ sung vitamin C 1–2 g/kg thức ăn, 2 lần/tuần. Khi mưa gió hoặc thời tiết thay đổi, giảm 10–20% khẩu phần hoặc ngưng cho ăn.

  1. Chăm sóc và quản lý

Trong suốt quá trình nuôi, cần thường xuyên theo dõi thời tiết, hoạt động của cá và các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH, oxy hòa tan, NH₃. Tháng nuôi đầu duy trì mực nước 1,4  – 1,5 m; sau đó định kỳ thay nước 1 – 2 lần/tháng, mỗi lần khoảng 30 – 50 % lượng nước trong ao. Nên có ao lắng để xử lý và dự trữ nước trước khi cấp vào ao nuôi.

Định kỳ 2 tuần/lần có thể sử dụng vôi CaCO₃ đã lắng với lượng 1–2 kg/100 m³ nước để duy trì pH. Chế phẩm sinh học được sử dụng định kỳ 15–20 ngày/lần theo hướng dẫn của nhà sản xuất để hỗ trợ xử lý môi trường và giảm mùi đáy ao. Sát khuẩn nước định kỳ 15 ngày bằng thuốc tím, Iodine hoặc sản phẩm phù hợp theo liều khuyến cáo.

Người nuôi cần kiểm tra cá định kỳ khoảng 15 ngày/lần để đánh giá tăng trưởng, từ đó điều chỉnh lượng thức ăn. Đồng thời, có thể lắp máy bơm đảo nước hoặc quạt nước để tạo dòng chảy và bổ sung oxy, vận hành khoảng 22 giờ đến 6 giờ sáng. Khi thiết bị gặp sự cố hoặc mất điện, có thể sử dụng zeolite theo hướng dẫn để hỗ trợ xử lý oxy đáy.

Phòng bệnh cho cá cần bắt đầu từ việc cải tạo ao đúng kỹ thuật, chọn giống khỏe, giữ nước sạch, cho ăn vừa đủ và bảo quản thức ăn tốt, không để ẩm mốc. Định kỳ 7 – 10 ngày có thể bổ sung vitamin C và men tiêu hóa, mỗi loại 3–5 g/kg thức ăn, cho ăn liên tục trong 3 ngày.

  1. Thu hoạch

Sau khoảng 5 – 6 tháng, cá đạt kích cỡ thương phẩm khoảng 80 con/kg có thể thu hoạch; thời điểm có thể điều chỉnh theo chăm sóc và nhu cầu thị trường.

Trước thu hoạch 1 – 2 tuần tăng cường thay nước để làm sạch ao, giảm mùi bùn và hạn chế tảo. Khi phần lớn cá đạt kích cỡ tương đối đồng đều và tăng trưởng chậm, tháo bớt 20 – 30% nước để thuận tiện kéo lưới. Thu tỉa hoặc thu toàn bộ bằng lưới phù hợp; thao tác nhẹ để hạn chế xây xát, hao hụt. Sau khi thu phần lớn cá, tháo cạn và thu số còn lại. Cá cần được xử lý, phân loại và tiêu thụ nhanh để bảo đảm chất lượng.

Thu hoạch cá linh thương phẩm.

Bài và ảnh: Phan Thị Thanh Hằng