Từ mã số vùng trồng đến tận dụng rơm rạ trồng nấm trong thực hiện Đề án 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp.

Ngày 12/8, Trung tâm Khuyến nông tỉnh An Giang phối hợp với xã Hòn Đất tổ chức lớp tập huấn về quy trình thực hiện Đề án phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long cho 30 nông dân trong và ngoài mô hình đến tham dự.

Đây là buổi tập huấn lần thứ 3 trước khoảng 20 ngày vụ thu hoạch lúa tại mô hình, ngoài hướng dẫn sản xuất lúa theo hướng giảm phát thải, buổi tập huấn còn nhấn mạnh về cấp mã số vùng trồng, quản lý thất thoát sau thu hoạch, tận dụng rơm rạ để trồng nấm nhằm mở ra hướng sản xuất mới cho nông dân sau mỗi vụ lúa.

Điểm đáng chú ý của buổi tập huấn nông dân còn được tham quan ruộng mô hình để đánh giá thực tế tình hình sinh trưởng của cây lúa, kiểm tra đồng ruộng và trao đổi trực tiếp những vấn đề phát sinh trong giai đoạn chuẩn bị thu hoạch.

Quan cảnh buổi tập huấn

Ôn lại quy trình – Nông dân thay đổi tư duy sản xuất.

Tại buổi tập huấn, bà Nguyễn Thị Xuân Hương, viên chức Trung tâm Khuyến nông giới thiệu những mục tiêu quan trọng của Đề án 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Trong đó nhấn mạnh việc tổ chức sản xuất theo hướng tập trung, quy trình kỹ thuật tiên tiến, giảm chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng nông sản, các chỉ tiêu liên quan đến cấp mã số vùng trồng, cách trồng nấm rơm theo hướng kinh tế tuần hoàn…

Điểm ấn tượng của buổi tập huấn là ôn lại kiến thức của các lần trước nông dân áp dụng vào thực tế ruộng lúa của mình, bà Nguyễn Thị Xuân Hương đặt ra nhiều câu hỏi tóm tắt với nội dung nằm trong quy trình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Với mỗi câu hỏi là đi đôi với phần quà hấp dẫn cho nông dân tham gia trả lời hoàn thành xuất sắc về: Mục tiêu của Đề án phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp; Quy trình quản lý nước ngập, khô xen kẽ theo nguyên tắc; Những loại khí phát thải ảnh hưởng trong quá trình sản xuất lúa; Giải pháp kỹ thuật sản xuất lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh; Quản lý dịch hại sản xuất lúa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào thị trường châu Âu (EU)…

Qua những câu hỏi nông dân bốc thăm không khí buổi tập huấn diễn ra sôi nổi khi nhiều nông dân chủ động trao đổi, trả lời câu hỏi và chia sẻ kinh nghiệm thực tế trên chính ruộng lúa của mình.

Nông dân tham quan mô hình canh tác theo quy trình thuộc Đề án 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp.

Theo bà Trần Thị Cẩm Tú, Phó Trưởng phòng Trồng trọt cho biết: Việc đặt câu hỏi để nông dân trả lời là một phương pháp giúp kiểm tra mức độ tiếp thu sau các buổi tập huấn. Tập huấn không chỉ dừng lại ở nghe giảng, sau hai lần trước đến buổi thứ 3 báo cáo viên đưa ra những câu hỏi trọng tâm để bà con nông dân tự nhớ lại kiến thức và liên hệ với ruộng lúa của mình, khi bà con tự trả lời được thì khả năng áp dụng vào sản xuất sẽ tốt hơn.

Nông dân Lâm Thành Tấn, xã Hòn Đất chia sẻ trong thực hiện mô hình.

Qua các lần tập huấn, nông dân từng bước thay đổi tập quán canh tác khi tham gia mô hình thuộc Đề án phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Thay đổi đầu tiên là giảm lượng giống gieo sạ, nông dân Lâm Thành Tấn, xã Hòn Đất tham gia mô hình, cho biết: Trước đây nông dân chúng tôi thường nghĩ sạ càng nhiều thì lúa càng tốt, nhưng qua tập huấn và thực tế sản xuất mới thấy sạ thưa giúp cây lúa khỏe hơn. Ruộng thông thoáng, ít sâu bệnh, nên thuốc bảo vệ thực vật cũng giảm. Quan trọng là mình phải thay đổi suy nghĩ, thay đổi tư duy trong sản xuất để nâng cao giá trị hạt gạo.

Biến rơm rạ thành nguồn nguyên liệu có giá trị

Không chỉ quan tâm đến cây lúa, buổi tập huấn còn hướng dẫn nông dân tận dụng rơm rạ sau thu hoạch để trồng nấm, qua đó biến phụ phẩm nông nghiệp thành nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất.

Tại buổi tập huấn, các học viên được anh Nguyễn Lê Vinh, viên chức Trung tâm Khuyến nông hướng dẫn kỹ thuật cách thu gom rơm sau khi thu hoạch, lựa chọn nguồn rơm phù hợp, xử lý nguyên liệu, tạo mô và chăm sóc nấm. Anh Vinh cũng khuyến cáo nông dân không nên đốt rơm sẽ thiệt hại về đất đai và năng suất cây trồng, gây ngộ độc hữu cơ, dễ xảy ra các vụ cháy lan và thiệt hại tài sản, lãng phí tài nguyên phụ phẩm.

Anh Nguyễn Lê Vinh chia sẻ giải pháp quản lý rơm rạ trong canh tác lúa.

Để trồng nấm đạt chất lượng, anh Nguyễn Lê Vinh chia sẻ: phải thu rơm gom sạch, không lẫn đất, tạp chất và hạn chế sử dụng nguồn rơm có tồn dư hóa chất không bảo đảm yêu cầu. Sau khi xử lý, rơm được tạo môi trường thích hợp để nấm phát triển.

Việc tận dụng rơm trồng nấm được đánh giá là giải pháp phù hợp với định hướng kinh tế tuần hoàn trong sản xuất lúa. Thay vì đốt rơm ngoài đồng gây khói bụi và phát sinh khí thải, nông dân có thể thu gom, tái sử dụng để tạo thêm sản phẩm và thu nhập cho nông dân sau khi trồng lúa.

Anh Nguyễn Lê Vinh cho biết thêm: Khi kết thúc chu kỳ trồng nấm, phần rơm còn lại có thể tiếp tục được xử lý làm phân hữu cơ hoặc sử dụng làm nguồn vật liệu cải tạo đất, góp phần khép kín chu trình sản xuất. Buổi tập huấn cũng được các nông dân đăng ký tham gia trồng nấm sau khi thu hoạch lúa vụ Hè Thu năm 2026 đạt tiêu chí của Đề án.

Các cán bộ Khuyến nông thực hiện theo dõi mô mình

Cấp mã số vùng trồng – nền tảng truy xuất nguồn gốc.

Một trong những nội dung được nông dân đặc biệt quan tâm tại buổi tập huấn là hướng dẫn xây dựng và cấp mã số vùng trồng.

Bà Nguyễn Thị Xuân Hương cho biết, mã số vùng trồng giúp xác định và quản lý vùng sản xuất, đồng thời tạo điều kiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Đây là yêu cầu ngày càng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa, nhất là khi sản phẩm lúa gạo hướng tới các thị trường có yêu cầu cao về chất lượng và nguồn gốc.

Để xây dựng vùng trồng đáp ứng yêu cầu, nông dân cần thực hiện sản xuất theo quy trình thống nhất, ghi chép đầy đủ nhật ký đồng ruộng, quản lý giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, tuân thủ thời gian cách ly và bảo đảm vệ sinh đồng ruộng. Khi vùng trồng có mã số, đủ điều kiện xuất khẩu, gia tăng giá trị và sức cạnh tranh sản phẩm.

 Bài và ảnh: Trang Nghiêm