Những năm gần đây, mô hình nuôi sò huyết dưới tán rừng ngập mặn tại xã Tân Thạnh, tỉnh An Giang đang mở ra hướng phát triển kinh tế bền vững cho người dân vùng ven biển. Với lợi thế nguồn nước tự nhiên, hệ sinh thái rừng ngập mặn phong phú cùng phương thức nuôi ít chi phí, thân thiện với môi trường, nhiều hộ dân đã có thu nhập cao, góp phần nâng cao đời sống và bảo vệ tài nguyên rừng.

Nhộn nhịp thu hoạch sò dưới tán rừng
Ở vùng ven biển An Giang hiện có gần 8.400 ha rừng phòng hộ ven biển, trong đó hơn 3.100 ha đất rừng ngập mặn phục vụ nuôi trồng thủy sản. Suốt nhiều năm, người dân nơi đây sống nhờ các mô hình nuôi xen canh dưới tán rừng. Trong đó, sò huyết vẫn được xem là đối tượng nuôi mang lại giá trị kinh tế cao nhất.
Ngay từ sáng sớm, khu vực rừng ngập mặn đã nhộn nhịp tiếng máy ghe của các hộ dân ra bãi thu hoạch sò huyết. Ông Nguyễn Văn Hái Tại ấp Xẻo Bần A, xã Tân Thạnh, tỉnh An Giang, với diện tích vuông sò rộng gần 3 ha của hộ gia đình. Ông Hái đã gắn bó nhiều năm với rừng ngập mặn và trước đây có cuộc sống bấp bênh vì con nước thất thường; Hoạt động nuôi thủy sản có những thời điểm bị thất trắng… Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, sò huyết đã trở thành đối tượng nuôi giúp gia đình ông đổi đời.

Ông Hái chia sẻ “Tôi có gần 3 ha rừng, năm vừa rồi thu hoạch sò huyết lợi nhuận cũng được 200-300 triệu đồng. Quan trọng hơn là mô hình này ít rủi ro, không phải sử dụng thức ăn công nghiệp hay hóa chất, ở vùng rừng phòng hộ này, nhờ nuôi được con sò huyết nên kinh tế phát triển hơn nhiều”.
Không riêng gia đình ông Hái, nhiều hộ dân ven biển ở 2 xã: Tân Thạnh, Đông Thái đang từng bước mở rộng diện tích nuôi sò huyết. Đây là nguồn thu nhập chính của các hộ dân nơi đây. Ông Lê Văn Tuân, ngụ ấp 7 Biển, xã Đông Thái, cho biết: Với gần 1,6 ha mặt nước nuôi sò huyết dưới tán rừng, sản lượng thu hoạch tùy theo năm, nhưng năm nào thấp nhất cũng thu được khoảng 3 tấn sò thương phẩm, sau khi trừ chi phí lợi nhuận còn khoảng 150-200 triệu đồng/năm.
Rừng ngập mặn tạo môi trường sống thuận lợi.
Điểm nổi bật của mô hình là kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Người dân nơi đây luôn có ý thức giữ gìn cây rừng, không chặt phá hoặc làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái. Rừng ngập mặn vừa tạo môi trường sống thuận lợi cho sò huyết, vừa góp phần chắn sóng, chống sạt lở và bảo vệ bờ biển.
Theo nhiều hộ dân, trước đây không ít diện tích rừng bị bỏ hoang hoặc khai thác kém hiệu quả. Từ khi phát triển mô hình nuôi sò huyết, giá trị kinh tế của rừng được nâng lên rõ rệt. Người dân có thêm động lực để gắn bó với rừng, xem việc bảo vệ rừng cũng chính là bảo vệ sinh kế của gia đình.

Để mô hình phát triển hiệu quả, Khuyến nông thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn người dân lựa chọn con giống chất lượng, cải tạo bãi nuôi, quản lý môi trường và phòng ngừa rủi ro trong quá trình sản xuất.
Ông Nguyễn Ngọc Toản, Phó Trưởng phòng Khuyến ngư – Trung tâm Khuyến nông tỉnh An Giang, cho biết: “Nuôi sò huyết dưới tán rừng ngập mặn là mô hình có nhiều ưu điểm vì tận dụng được điều kiện tự nhiên, giảm đáng kể chi phí sản xuất và hạn chế tác động đến môi trường. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả cao, người nuôi cần lựa chọn giống có nguồn gốc rõ ràng, thả đúng mật độ, theo dõi diễn biến môi trường nước, đồng thời bảo đảm tỷ lệ che phủ rừng theo quy định. Việc giữ hệ sinh thái rừng ổn định chính là yếu tố quyết định sự phát triển của sò huyết.”
Cải thiện năng suất nhờ tham gia Dự án
Trước đây việc xử lý môi trường hoặc tạo thức ăn tự nhiên cho sò, người dân thường sử dụng các loại hóa chất để xử lý nước. Việc này vô tình làm môi trường nước bị ô nhiễm, sò bị sốc và tỷ lệ sống rất thấp. Trong khi đó, mô hình nuôi dưới tán rừng phòng hộ không cho phép nạo vét ao nuôi. Qua nhiều năm, lá cây rụng, chất hữu cơ và độc tố tích tụ dưới đáy ao gây ô nhiễm nghiêm trọng.
Chính vì vậy năng suất thấp chỉ còn khoảng 1,7 đến 2,2 tấn/ha, thấp hơn 30-50% so với thời điểm trước năm 2010, có những vụ người nuôi gần như mất trắng. Theo ghi nhận của Trung tâm Khuyến nông tỉnh An Giang, trong giai đoạn 2015-2018, nhiều hộ nuôi sò huyết rơi vào cảnh trắng tay vì sò huyết chết hàng loạt, nguyên nhân đến từ tập quán nuôi cũ. Bài toán đặt ra lúc đó là phải tìm được mô hình vừa nâng cao thu nhập cho người dân, vừa bảo vệ hệ sinh thái rừng phòng hộ.

Thực hiện Dự án của của Trung tâm Khuyến nông Quốc Gia, Trung tâm Khuyến nông An Giang triển khai xây dựng mô hình “Nuôi sò huyết dưới tán rừng phòng hộ ven biển tại tỉnh An Giang” giai đoạn 2023-2025. Đây là dự án vừa tạo môi trường thuận lợi cho người dân, vừa góp phần chắn sóng, chống sạt lở và bảo vệ bờ biển. Người dân tham gia dự án còn được tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn kiểm tra các chỉ số môi trường, ghi chép nhật ký sản xuất và theo dõi tốc độ tăng trưởng của sò theo từng giai đoạn.
Mô hình đã thay thế dần hóa chất bằng chế phẩm vi sinh để xử lý môi trường, đồng thời tăng nguồn thức ăn tự nhiên cho sò huyết tăng trưởng và phát triển. Với kết quả dự án bước đầu của mô hình năng suất sò huyết tăng từ 4 tấn/ha trở lên.
Mục tiêu của dự án là khoảng 90% sản phẩm sò huyết được kết nối liên kết tiêu thụ ổn định. Các hộ tham gia dự án được hỗ trợ 40% con giống và 50% vật tư, chế phẩm sinh học. Sò giống được thả đồng loạt theo lịch thời vụ với mật độ 100 con/m², cao hơn cách nuôi truyền thống từ 30-50 con/m².
Thay đổi tư duy kết quả bất ngờ
Từ khi tham gia dự án người dân bắt đầu thay đổi tư duy sản xuất. Thay vì mở rộng diện tích nuôi bằng cách tác động vào rừng, nhưng họ tập trung ứng dụng khoa học kỹ thuật để tăng năng suất trên cùng diện tích.
Kết quả mang lại từ mô hình khiến nhiều người bất ngờ. Năm 2023, 10 hộ dân ở xã Tân Thạnh tham gia mô hình đạt năng suất trung bình 5,68 tấn/ha, cao hơn ngoài mô hình hơn 3,5 tấn/ha. Lợi nhuận trung bình đạt khoảng 271 triệu đồng/ha, cao hơn phương thức nuôi truyền thống khoảng 177 triệu đồng/ha. Đến năm 2024, dù điều kiện thời tiết còn nhiều biến động nhưng năng suất trung bình vẫn đạt 4,48 tấn/ha, cao hơn ngoài mô hình hơn 2,42 tấn/ha. lợi nhuận khoảng 189 triệu đồng/ha, cao hơn ngoài mô hình hơn 95 triệu đồng/ha. Riêng năm 2025, mô hình triển khai tại 2 xã Tân Thạnh và Đông Thái ghi nhận tỷ lệ sò sống đạt tới 93,6%. Các chỉ số môi trường trong vuông nuôi ổn định hơn nhờ sử dụng định kỳ chế phẩm vi sinh.

Kết quả thực tế cho thấy, năng suất mô hình cao gấp 2 đến 2,5 lần so với hộ nuôi ngoài mô hình. Hiện nay năng suất đạt khoảng 5 tấn/ha, kích cỡ thương phẩm khoảng 100 con/kg. Sau khi trừ chi phí, bà con lợi nhuận trung bình 170-220 triệu đồng/ha”.
Một tín hiệu tích cực khác là từ tháng 5.2025, sản phẩm sò huyết của các hộ tham gia dự án tại xã Tân Thạnh đã đạt chứng nhận OCOP 3 sao và được ký kết tiêu thụ ổn định. Điều đó mở ra cơ hội xây dựng thương hiệu sò huyết An Giang theo hướng sạch, an toàn và bền vững, tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân, gìn giữ màu xanh của những cánh rừng ven biển.
Bài và ảnh: Huỳnh Minh Tiễn


































































