Chiều 30/7, tại xã Vĩnh Hòa, Trung tâm Khuyến nông An Giang phối hợp cùng Công ty TNHH Môi trường và Dịch vụ TMH tổ chức hội thảo tổng kết mô hình “Giải pháp phân hủy nhanh rơm rạ bằng chế phẩm sinh học R3 trong sản xuất lúa – tôm”. Hội thảo là dịp đánh giá hiệu quả mô hình sau gần 6 tháng triển khai, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm, nhân rộng giải pháp canh tác thân thiện với môi trường trong vùng sản xuất lúa – tôm.
Tham dự hội thảo có ông Nguyễn Phước Thành – Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông An Giang, bà Nguyễn Thị Minh – Giám đốc Công ty TNHH Môi trường và Dịch vụ TMH, viên chức phòng Chăn nuôi – Thủy sản, lãnh đạo UBND, Phòng Kinh tế, Trung tâm Dịch vụ tổng hợp các xã Vĩnh Hòa, U Minh Thượng, Vĩnh Bình cùng khoảng 50 đại biểu là cán bộ kỹ thuật, hợp tác xã và nông dân sản xuất lúa – tôm.
Mô hình được triển khai từ tháng 2-7/2026 trên vùng sản xuất lúa – tôm xã Vĩnh Hòa nhằm đánh giá khả năng sử dụng chế phẩm sinh học R3 để phân hủy nhanh rơm rạ sau thu hoạch, góp phần cải tạo môi trường đồng ruộng, tạo điều kiện thuận lợi cho vụ nuôi tôm tiếp theo.
Tại hội thảo, đại biểu được nghe báo cáo kết quả triển khai mô hình, theo dõi video ghi lại toàn bộ quá trình thực hiện, đồng thời tìm hiểu cơ chế hoạt động của chế phẩm sinh học R3 trong quá trình xử lý rơm rạ. Theo báo cáo, mô hình sử dụng chế phẩm sinh học R3 trong sản xuất lúa – tôm đã ghi nhận những kết quả tích cực cả về năng suất, hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường.
Đối với đợt nuôi tôm thứ nhất, mô hình đạt sản lượng 1.990 kg. Tỷ lệ sống của tôm ở giai đoạn ương đạt bình quân 85%, giai đoạn nuôi thương phẩm đạt 68,5%, cỡ tôm thu hoạch trung bình 88 con/kg, đáp ứng yêu cầu tiêu thụ trên thị trường.
Ở đợt nuôi thứ hai, mô hình tiếp tục kết hợp nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm càng xanh. Kết quả thu hoạch đạt 750 kg tôm thẻ chân trắng và 600 kg tôm càng xanh. Tỷ lệ sống giai đoạn ương của tôm thẻ đạt 78%, tôm càng xanh đạt 85%; đến giai đoạn nuôi thương phẩm, tỷ lệ sống của tôm thẻ đạt 68%, trong khi tôm càng xanh đạt 27%. Cỡ thu hoạch bình quân của tôm thẻ là 120 con/kg, còn tôm càng xanh đạt khoảng 25 con/kg.

Bên cạnh các chỉ tiêu về sản lượng, mô hình còn mang lại nhiều giá trị về môi trường và xã hội. Việc sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý rơm rạ sau thu hoạch giúp nông dân từng bước thay đổi tập quán sản xuất truyền thống, không đốt rơm rạ hoặc xả nước ngâm rơm rạ trực tiếp ra môi trường, qua đó hạn chế ô nhiễm nguồn nước, giảm ảnh hưởng đến sinh hoạt và hoạt động sản xuất của các hộ dân trong khu vực.
Sau khi nghe báo cáo, bà Nguyễn Thị Minh đánh giá mô hình còn góp phần nâng cao chất lượng môi trường vùng nuôi, tạo điều kiện phát triển mô hình lúa – tôm theo hướng an toàn, bền vững, từng bước nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm phục vụ tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu. Đồng thời, việc áp dụng quy trình sản xuất mới cũng góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh và tổ chức sản xuất cộng đồng hiệu quả hơn.
Đại diện chính quyền các xã Vĩnh Hòa, U Minh Thượng và Vĩnh Bình cũng trao đổi về định hướng tiếp tục tuyên truyền, vận động nông dân thay đổi thói quen đốt rơm rạ sau thu hoạch, từng bước nhân rộng các giải pháp xử lý sinh học nhằm giảm ô nhiễm môi trường, bảo vệ hệ sinh thái và nâng cao giá trị sản xuất.

Phát biểu kết thúc hội thảo, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông An Giang Nguyễn Phước Thành đánh giá cao sự phối hợp giữa đơn vị chuyên môn, doanh nghiệp và địa phương trong quá trình triển khai mô hình. Đồng thời khẳng định, việc ứng dụng các chế phẩm sinh học để xử lý phụ phẩm nông nghiệp là một trong những giải pháp phù hợp với định hướng phát triển nền nông nghiệp xanh, phát thải thấp và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Thông qua hội thảo, những kết quả bước đầu của mô hình không chỉ cung cấp thêm cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện quy trình kỹ thuật mà còn mở ra hướng tiếp cận mới trong quản lý rơm rạ sau thu hoạch. Khi phụ phẩm được xử lý hiệu quả và quay trở lại phục vụ sản xuất, mô hình lúa – tôm sẽ từng bước nâng cao tính bền vững, góp phần bảo vệ môi trường, giảm phát thải và gia tăng hiệu quả kinh tế cho người nông dân.
Bài và ảnh: Nguyễn Hữu An Khương



































































