Vùng Tứ giác Long Xuyên có nhiều diện tích đất lúa bị ngập sâu vào mùa nước nổi. Cây sen thích nghi tốt với điều kiện này: cuống lá và cuống hoa vươn dài theo mực nước để giữ quang hợp. Quy trình dưới đây giúp nông dân tận dụng diện tích bỏ trống sau vụ lúa Hè Thu, giảm đầu tư phân bón, hạn chế thuốc hóa học và có thêm nguồn thu từ gương sen, hạt, ngó và hoa. Mô hình đang được áp dụng tại một số địa phương như An Cư, Thạnh Mỹ Tây, Tịnh Biên.
1. Điều kiện áp dụng
- Ruộng lúa vụ Hè Thu hoặc đất trũng, ngập nước mùa lũ, có nguồn nước sạch, không nhiễm phèn nặng.
- Chủ động theo dõi dự báo mực nước từ cơ quan thủy văn địa phương. Cần có bờ bao hoặc cống điều tiết để kiểm soát tốc độ nước vào. Ruộng hở cần có hàng rào chắn sóng và lục bình.
- Quy ước đơn vị: 1 ha = 10 công (1 công = 1.000 m²).
2. Lịch thời vụ gợi ý
| Thời điểm | Công việc |
| Ngay sau thu hoạch lúa Hè Thu | Xử lý rơm rạ, làm đất, bón vôi |
| Khoảng 3 tuần sau thu hoạch | Xuống giống |
| 0 đến 40 ngày sau trồng | Chăm sóc, giữ nước nông, tăng dần |
| Trước khi nước lũ dâng | Cây cần đạt ít nhất 40 đến 50 ngày tuổi |
| Nước dâng | Điều tiết nước, chắn sóng |
| Nước rút | Nuôi gương, thu hoạch |
Lưu ý: nếu lúa thu hoạch muộn, sen có thể chưa đủ tuổi khi nước dâng. Nông dân cần so sánh lịch xuống giống với dự báo lũ của năm đó. Nếu cây dưới 40 ngày tuổi mà nước dâng nhanh, nên hoãn trồng hoặc không áp dụng ở ruộng không kiểm soát được nước.
3. Chuẩn bị đất
3.1 Xử lý rơm rạ: cho nước vào ngập gốc rạ 1 đến 2 ngày để đất ẩm, sau đó rải chế phẩm vi sinh (Trichoderma hoặc Bacillus) theo hướng dẫn trên bao bì để rơm rạ phân hủy nhanh.
3.2 Cày vùi, ngâm: cày lật để rơm rạ chìm xuống bùn, ngâm nước khoảng 1 tuần.
3.3 Phay nhuyễn, san phẳng mặt ruộng.
3.4 Bón vôi: 300 đến 500 kg/ha (30 đến 50 kg/công) để khử chua và hạn chế mầm bệnh tồn lưu. Nên đo pH đất trước, ruộng phèn nặng cần xử lý riêng.
3.5 Bón lót: sau vôi 5 đến 7 ngày, bón phân hữu cơ hoai mục và Trichoderma (xem Bảng 1).
3.6 Để ruộng ổn định thêm 5 đến 7 ngày rồi mới xuống giống.
4. Giống và xử lý giống
- Chọn giống sen cho nhiều hoa, gương to, hạt chắc, nên chọn giống đã được địa phương trồng thành công.
- Cây giống phải có từ 2 lá trở lên, lá không dập nát, ngó và rễ còn nguyên, không thối.
- Chiết giống vào sáng sớm hoặc chiều mát, vận chuyển trong thùng xốp để tránh héo. Trồng ngay trong ngày.
- Trước khi trồng có thể nhúng phần ngó vào dung dịch chế phẩm sinh học (Trichoderma hoặc Bacillus) để giảm nguy cơ thối ngó.
5. Kỹ thuật trồng
- Trồng vào chiều mát. Đặt ngó sâu 2 đến 3 cm dưới bùn: trồng quá sâu cây lâu bén rễ, quá cạn cây dễ bị nổi.
- Khoảng cách 2 m x 2,5 m hoặc 2,5 m x 2,5 m, tương ứng 1.600 đến 2.000 cây/ha (160 đến 200 cây/công).
- Sau 10 ngày, kiểm tra và trồng dặm cây chết.
6. Chăm sóc theo giai đoạn
Giai đoạn 1: 0 đến 20 ngày sau trồng
- Giữ mực nước nông, khoảng 10 đến 15 cm trong tuần đầu, sau đó nâng lên 20 đến 25 cm để mầm không bị ngập sâu. Mưa lớn thì tháo bớt nước.
- Làm cỏ, vớt rong và bèo sau trồng 7 đến 10 ngày.
- Ngày 10: bón thúc lần 1.
Giai đoạn 2: 20 đến 40 ngày (phát triển thân lá)
- Tăng dần mực nước lên 25 đến 35 cm.
- Ngày 20, 30, 40: bón theo Bảng 1.
- Tỉa bỏ lá già, lá sâu bệnh cho ruộng thông thoáng.
Giai đoạn 3: từ 40 ngày đến khi nước dâng
- Giữ nước 40 đến 50 cm, trao đổi nước định kỳ 2 tuần/lần.
- Ngày 50: bón thúc lần 3 (Bảng 1).
- Khi nước bắt đầu dâng, cho nước vào từ từ 5 đến 10 cm/ngày. Không để nước chảy xiết làm bật rễ, gãy thân.
- Dựng hàng rào tre hoặc lưới chắn sóng, ngăn lục bình trôi vào và hạn chế hoạt động đánh bắt thủy sản gây hại.
- Thường xuyên theo dõi mực nước. Nếu nước dâng vượt khả năng điều tiết, ưu tiên bảo vệ bờ bao và liên hệ cán bộ khuyến nông địa phương.
Giai đoạn 4: nước rút, nuôi gương
- Khi mực nước còn khoảng 1 m, bón lân và kali (Bảng 1) để nuôi gương, giúp gương to, hạt chắc. Hạn chế bón nhiều đạm ở giai đoạn này.
- Tỉa lá già, lá bệnh. Theo dõi các bệnh cháy lá, đốm nâu, phấn trắng.
Bảng 1. Lượng phân bón gợi ý (kg/công, 1 công = 1.000 m²)
| Thời điểm | Phân hữu cơ hoai | Trichoderma | Urê | DAP | Kali | NPK |
| Bón lót | 250 | 6 | ||||
| Ngày 10 | 10 | |||||
| Ngày 20 | 150 | 6 | ||||
| Ngày 30 | 20 | 10 | 20 | |||
| Ngày 40 | 150 | 6 | ||||
| Ngày 50 | 25 | 25 | 25 | |||
| Nước còn khoảng 1 m | 30 | 25 |
Ghi chú: Dùng loại NPK có tỷ lệ phù hợp giai đoạn nuôi gương (giàu lân và kali), theo hướng dẫn của cán bộ khuyến nông. Chia nhỏ lượng bón, tránh bón ngay trước khi thay nước hoặc mưa lớn để giảm thất thoát.

7. Quản lý sâu bệnh hại
Nguyên tắc: phòng là chính, ưu tiên biện pháp canh tác và chế phẩm sinh học. Khi cần dùng thuốc, chỉ dùng thuốc trong danh mục được phép, đúng liều, đúng cách và tuân thủ thời gian cách ly. Ghi nhật ký phun xịt.
| Đối tượng | Dấu hiệu | Phòng trị |
| Sâu xanh (sâu ăn lá) | Nhiều vào mùa nắng; sâu non ăn lá tạo lỗ thủng, nặng thì lá trơ gân; sâu lớn đục bông và gương | Thăm đồng thường xuyên, bắt sâu và ngắt lá có ổ trứng, dùng chế phẩm sinh học như Bt |
| Bọ trĩ, nhện đỏ | Hút nhựa cuống, lá, hoa; lá nhăn, teo, xanh sẫm; hoa và gương khô | Giữ ẩm, tưới rửa lá bằng nước mạnh; ngâm nước ngập lá 12 đến 24 giờ trước trổ hoa chỉ nên thử trên diện tích nhỏ vì có thể tăng nguy cơ bệnh; dùng chế phẩm sinh học như Beauveria hoặc Metarhizium |
| Ốc bươu vàng, rệp | Ốc cắn lá non, cuống; rệp tụ ở lá và nụ | Thu gom ốc và trứng, làm hàng rào chắn; xử lý rệp theo hướng dẫn cán bộ bảo vệ thực vật |
| Bệnh thán thư | Chấm đen ở cuống hoặc mép lá non, lan thành mảng, lá thối đen; gương thối đen, teo, hạt lép | Tỉa lá bệnh, giữ ruộng thông thoáng, cân đối phân bón |
| Bệnh thối ngó, cháy lá | Vết thâm đen, ướt ở cuống lá, cuống hoa, lá non; lá rũ, hoa héo, thối chồi ngầm. Nặng nhất khi nước sâu, đất chua | Bón vôi trước trồng, kiểm tra pH, xử lý ngó giống, không để ruộng ứ đọng, loại bỏ cây bệnh; khi nghi bệnh cần nhờ cán bộ bảo vệ thực vật chẩn đoán trước khi xử lý |
Chế phẩm sinh học hiệu quả thấp hơn khi ruộng ngập sâu; cần phun phòng sớm, không chờ bệnh nặng mới xử lý.
8. Thu hoạch
- Thu gương khoảng 21 đến 23 ngày sau khi hoa nở. Dấu hiệu: đỉnh hạt chuyển đen, cuống gương có ánh hồng nhạt (cần kiểm tra thêm độ chắc của hạt theo từng giống).
- Thu định kỳ 3 ngày/lần để tránh gương quá lứa. Thời gian thu hoạch kéo dài 50 đến 60 ngày.
9. Chăm sóc sau thu hoạch và tái sinh vụ sau
- Sau mùa thu hoạch, giữ ruộng có nước, duy trì cây sen để tái sinh tự nhiên cho vụ tiếp theo, nhờ vậy giảm chi phí giống.
- Từ vụ thứ hai có thể giảm lượng phân bón tùy tình trạng đất và lượng phù sa bồi lắng. Nên theo dõi sinh trưởng và điều chỉnh với sự tư vấn của cán bộ khuyến nông.
- Nhổ bớt cây quá dày, vớt xác lá bệnh để hạn chế nguồn bệnh.
10. Lợi ích của mô hình
- Tận dụng đất ngập nước mùa lũ, tăng thu nhập từ nhiều sản phẩm sen.
- Giảm chi phí giống ở các vụ sau nhờ sen tái sinh, tiết kiệm phân bón khi quản lý tốt.
- Hạn chế thuốc hóa học, góp phần bảo vệ môi trường, sức khỏe cộng đồng và phục hồi hệ sinh thái đất ngập nước.
Khuyến nghị: Nông dân nên liên hệ Trung tâm Khuyến nông An Giang hoặc cán bộ khuyến nông xã để được hướng dẫn cụ thể theo từng vùng, giống và diễn biến mùa nước nổi.

Bài và ảnh: Trương Trần Thuận



































































