Quy trình cải tiến kỹ thuật ương giống cá heo (Botia modesta Bleeker, 1865)

1. Chuẩn bị ao ương

+ Ao ương giống có thể sử dụng ao chìm hoặc ao nổi có dạng hình vuông hoặc chữ nhật có diện tích từ 1.000 – 4.000 m2 để tiện chăm sóc và quản lí.

+ Trước khi tiến hành thả bột, ao ương cần được cải tạo qua các bước cơ bản như sau: tháo cạn nước, vét bùn, bón vôi (10 – 15 kg/100 m2) và phơi ao để tiêu diệt các mầm bệnh và vi khuẩn tích tụ dưới đáy ao từ vụ nuôi trước được phân hủy hoàn toàn.

Hình 1. Ao ương được lắp hệ thống quạt nước/sục khí và lưới rào xung quanh.

2. Lắp đặt hệ thống quạt nước và oxy đáy

+ Hệ thống quạt nước gồm động cơ điện hộp số (công suất từ 1.5 – 2.2 kw) và hệ thống cánh quạt (6 – 10 cái).

+ Hệ thống sục khí oxy đáy gồm máy thổi khí (3HP) kết nối với ống dẫn khí chính và phụ. Đường ống chính được sử dụng bằng ống nhựa PVC đường kính 42 cm, được dẫn trực tiếp từ máy thổi khí và được bố trí xung quanh ao ương. Đường ống phụ có đường kính là 21cm (là loại ống nhựa mềm), được kết nối với đường ống chính bằng co giảm 42/21, tại đầu các ống phụ sẽ được lắp dây sủi nano bố trí rải rác dọc theo chiều dài ao ương. Trên hệ thống ống dẫn phụ có lắp đặt các val điều chỉnh lượng khí thổi sau cho phù hợp với lượng khí cần sử dụng cung cấp cho ao ương.

+ Ao ương được lắp đặt từ 1 – 2 hệ thống quạt nước cùng với hệ thống sục khí oxy đáy bố trí như sơ đồ minh họa sau đây:

Hình 2. Sơ đồ bố trí hệ thống sục khí và sa quạt trong ao ương.

Việc lắp đặt hệ thống quạt nước và sa quạt cho ao ương có tác dụng chủ yếu như sau:

+ Cung cấp nguồn oxy cho cá, giúp phân tán lượng oxy đồng đều khắp trong không gian của ao từ bề mặt xuống đáy ao. Tăng cường phân hủy chất thải và giải phóng khí độc trong ao.

+ Điều hòa và làm cân bằng các yếu tố môi trường, giúp phân tán đều nguồn thức ăn tự nhiên trong ao, giảm hiện tượng phân tầng nhiệt độ nước trong ao.

+ Tăng cường hoạt động của cá, giúp cá tiêu hóa và hấp thụ thức ăn tốt hơn, góp phần làm giảm hệ số chuyển đổi thức ăn.

3. Thức ăn ương cá

+ Gây nuôi thức ăn tự nhiên: Sau khi hoàn tất quá trình cải tạo và lắp đặt hệ thống quạt nước + oxy thì tiến hành cấp nước (chiều cao cột nước khoảng 80 cm) vào ao ương thông qua lưới lọc để tránh địch hại theo nước vào ao ương, dùng iodine (liều lượng 0,5-1mL/m3) tạt đều khắp mặt ao vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát nhằm tiêu diệt mầm bệnh tồn lưu trong nước. Tiếp theo, sử dụng vôi đen (Dolomite) hoặc vôi nông nghiệp (CaCO3) tạt đều ao vào buổi sáng với liều lượng 100- 150 kg/1.000 m3 nước nhằm ổn định các yếu tố thủy lí hóa.

Sau khi thực hiện hoàn tất các bước trên thì tiến hành thả giống rotifer vào ao ương để gây nuôi, tạo nguồn thức ăn cho cá bột. Dùng các sản phẩm gây nuôi thức ăn tự nhiên có sẵn trên thị trường như Super Benthos; Aqua Moina;…(liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì) hoặc sử dụng thức ăn công nghiệp có độ đạm cao (≥ 40%) ủ với men vi sinh kết hợp dung dịch đạm cá thủy phân (liều lượng 1 kg + 1 lít/500.000 cá bột hoặc 1.000 m2/ngày) tạt đều khắp ao để gây nuôi nguồn động vật phiêu sinh (moina, rotifer, …) làm thức ăn cung cấp cho cá bột ở giai đoạn đầu trong quá trình ương.

                Hình 3a. Trùn chỉ                             Hình 3b. TĂCN dạng mảnh                          Hình 3c. TĂCN dạng viên

4. Thả bột:

Sau khi tiến hành gây nuôi thức ăn tự nhiên khoảng 1 – 2 ngày thì dùng cốc thủy tinh múc nước kiểm tra nguồn động vật phiêu sinh xuất hiện trong ao đạt yêu cầu (5 – 10 cá thể/mL nước) thì tiến hành thả cá bột (1 ngày tuổi). Cá bột nên thả vào sáng sớm hoặc chiều mát và thả phân bố đều khắp ao. Mật độ thả từ 350 – 500 con/m2. Quá trình tạt thức ăn gây nuôi động vật phiêu sinh xuống ao được lặp lại liên tục sao cho mật độ phiêu sinh động vật trong ao luôn duy trì ổn định ở mức như trên cho đến khi cá được 20 ngày tuổi.

Hình 4. Cá Heo bột 1 ngày tuổi.

5. Cho ăn, chăm sóc và quản lí

+ Sau khi thả cá bột, mỗi ngày tiếp tục bơm thêm vào ao ương khoảng 10 cm nước thông qua lưới lọc nhằm giúp cá thích nghi với áp lực nước cũng như giúp kiểm soát lượng thức ăn tự nhiên trong ao ương.

+ Trong khoảng 20 ngày đầu sau khi thả cá bột, cá được cho ăn hoàn toàn bằng nguồn thức ăn tự nhiên được gây nuôi và bổ sung vào ao ương.

+ Ở 10 ngày tiếp theo, tùy theo mật độ động vật phiêu sinh còn lại trong ao và nhu cầu của cá con (kiểm tra lượng thức ăn trong ruột cá) mà tiến hành bổ sung thêm thức ăn cho cá với khẩu phần gồm trùn chỉ (50%) + moina (50%) tạt đều khắp ao.

+ Sau khi cá được 30 ngày tuổi thì tiến hành tập cho cá ăn thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm thô 40% và chuyển sang sử dụng 100% khẩu phần ăn là thức ăn công nghiệp cho đến khi thu hoạch (120 ngày tuổi).

+ Cá được cho ăn mỗi ngày 3 lần (lượng thức ăn tùy theo nhu cầu) vào các thời điểm 8 – 9 giờ; 13 – 14 giờ và 18 – 19 giờ. Quá trình bắt mồi của cá được theo dõi hàng ngày thông qua sàng ăn và kiểm tra lượng thức ăn trong hệ tiêu hóa của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho thích hợp.

Hình 5. Kiểm tra khả năng bắt mồi của cá.

+ Hệ thống quạt nước được mở từ 20 giờ tối hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau. Định kỳ sử dụng các loại thuốc/hóa chất có tác dụng diệt nấm (Bronopol, …) và diệt khuẩn (Iodine, …) 1 lần/tuần để vệ sinh môi trường ao nuôi, giúp phòng bệnh cho cá.

+ Các thông số môi trường nước trong ao ương phải đạt: oxy từ 3 – 4 ppm (mg/L) trở lên; nhiệt độ từ 25 – 300C; pH từ 7,5 – 8,0. Nếu các chỉ tiêu trên không đạt thì tùy theo chỉ tiêu mà có thể tiến hành điều chỉnh thông qua các biện pháp như thay nước, bón vôi,…

6. Thu hoạch

+ Sau 120 ngày ương, khi cá đạt kích cỡ trung bình 500 con/kg thì tiến hành thu hoạch bán giống hoặc chuyển sang ao/bè nuôi thương phẩm.

+ Tỷ lệ sống trung bình ước đạt ≥ 20%.

Hình 6. Thu hoạch cá heo giống.

Bài và ảnh: Nguyễn Minh Thư