Khuyến cáo chăm sóc tôm, cá nuôi vào mùa nắng nóng

Những ngày qua, nắng nóng kéo dài làm nhiệt độ trong nước tăng lên, các chất hữu cơ tích tụ ở đáy ao theo đó bị phân hủy mạnh. Quá trình phân hủy chất hữu cơ không chỉ tiêu hao nhiều oxy hòa tan trong nước mà còn thải ra các khí độc ở đáy ao khuyếch tán vào nước gây ngộ độc cho động vật thủy sản. Mặt khác, nắng nóng trong thời gian dài còn tạo điều kiện cho các loại tảo trong ao phát triển mạnh làm giảm hàm lượng oxy hòa tan trong nước vào ban đêm và sáng sớm. Để chủ động phòng chống, hạn chế hiện tượng cá, tôm chết do nắng nóng, dịch bệnh nhằm bảo vệ an toàn cho các đối tượng thủy sản thì các hộ nuôi trồng thủy sản cần thực hiện một số giải pháp kỹ thuật sau:

1. Đối với nuôi cá nước ngọt:

– Luôn duy trì mực nước ao nuôi từ 1,5m trở lên. Nếu ao không đủ độ sâu, nguồn nước cấp khó khăn cần che phủ một phần diện tích ao để làm nơi trú ẩn, tránh nắng nóng cho đối tượng nuôi (bèo tây, che lưới lan…).

Ao nuôi cá

– Giảm lượng thức ăn trong những ngày nắng nóng kéo dài, giảm vào bữa trưa và tăng cường cho ăn vào chiều mát. Bên cạnh đó, cần bổ sung các loại vitamin, men tiêu hóa… vào thức ăn để tăng cường sức đề kháng, kích thích tiêu hóa sẽ giúp cá nuôi bắt mồi và tiêu hóa thức ăn tốt hơn liên tục 5-7 ngày với liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

– Thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường nhất là nhiệt độ nên duy trì nhiệt độ trong khoảng 27-300C bằng cách giữ mức mước thích hợp cho ao nuôi là từ 1,5m trở lên, kiểm tra và châm thêm nước kịp thời tránh hiện tượng bốc hơi mạnh làm giảm nước trong ao. Nên cấp nước khi trời mát và không có mầm bệnh hoặc xử lý mầm bệnh kỹ trước khi thả giống; Đồng thời luôn duy trì độ pH thích hợp từ 7,5 – 8,5, chênh lệch ngày đêm không quá 0,5.

– Quản lý bùn đáy ao và chất lượng nước bằng chế phẩm sinh học, tránh để hiện tượng tảo tàn, tảo độc phát triển trong ao nuôi khi nhiệt độ cao và nắng nóng kéo dài.

2.Đối với nuôi tôm nước lợ:

2.1. Đối với nuôi thâm canh và bán thâm canh:

Ao nuôi cần có diện tích và độ sâu thích hợp để hạn chế biến động nhiệt độ giữa ngày và đêm. Nên duy trì mực nước trong ao tối thiểu từ 1,3 – 1,5 m, nếu cần cấp bổ sung nước thì phải được lấy từ ao lắng, xử lý trước khi cấp vào ao nuôi. Khi nhiệt độ nước ao tăng trên 340C: Cần giảm thức ăn; Bổ sung vitamine C (trộn vào thức ăn); Tăng thời gian chạy quạt nước, sục khí để tránh hiện tượng phân tầng nhiệt độ, tăng cường oxy và giảm thiểu thiếu oxy cục bộ,…

Độ mặn thích hợp cho tôm là khoảng từ 10 – 25‰. Độ mặn nước quá cao, tôm nuôi chậm lớn và ngược lại khi độ mặn thấp, tôm bị mềm vỏ và tỷ lệ sống thấp. Trong khi nuôi, cần hạn chế để độ mặn thay đổi quá 5 ‰/ngày. Giữ nước trong ao nuôi đủ sâu, không nên thay nước quá 30 %/lần. Trong quá trình nuôi định kỳ bón vôi nông nghiệp CaCO3 10 ngày/lần vào lúc 20 – 21h với liều lượng dao động từ 10 – 20 kg/1.000 m3 tùy theo độ mặn để điều chỉnh pH thích hợp. Nếu độ mặn dưới 17‰ thì điều chỉnh pH từ 8,2 – 8,4. Nếu độ mặn trên 17‰ thì điều chỉnh pH giảm dần xuống 8,0 – 8,2. Nếu độ mặn 25‰ thì điều chỉnh pH 7,7 – 7,8. Đến 11-12h trưa ngày hôm sau, cấy vi sinh theo chỉ dẫn của nhà cung cấp (sản phẩm có uy tín, thương hiệu) để làm sạch môi trường.

pH và độ kiềm là hai yếu tố quan trọng tác động đến đời sống của tôm. Khi pH và độ kiềm thay đổi ngoài khoảng thích hợp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tôm nuôi. Khi pH thấp người nuôi cần gây tảo và giữ màu nước thích hợp đảm bảo độ trong đạt từ 30 – 40 cm. Trong quá trình nuôi nếu pH < 7,5 cần bón vôi (CaCO3­, Dolomite) với liều lượng 10 – 20kg/1000 m3 nước. Khi pH cao: sử dụng mật đường 3 kg/1000 m3 kết hợp sử dụng vi sinh hoặc dùng Acid acetic 3lít/1000m3. Khi độ kiềm thấp người nuôi sử dụng Dolomite 15 – 20kg/1000 m3 vào ban đêm cho đến khi đạt yêu cầu. Độ kiềm cao: sử dụng EDTA 2 – 3 kg/1000 m3 vào ban đêm.

Kiểm tra môi trường nước ao nuôi tôm chân trắng

Cần giữ màu nước thích hợp (xanh vỏ đậu, nâu cánh gián), mực nước sâu từ 1,3 – 1,5m để sự dao động về nhiệt độ, oxy hoà tan, pH giữa ban ngày và ban đêm diễn ra chậm không gây sốc cho tôm. Cần đo hằng ngày các chỉ tiêu như pH, độ trong; riêng chỉ tiêu ôxy hòa tan, độ kiềm và NH3 có thể  3 – 5 ngày đo 1 lần để có biện pháp xử lý kịp thời khi các yếu tố này biến động bất lợi cho tôm nuôi. Duy trì các yếu tố môi trường nước thích hợp như: độ trong từ 30 – 40cm; độ kiềm 80 – 120; độ mặn từ 15 – 25 ‰; pH từ 7,5 – 8,5; Oxy hòa tan > 4 mg/lít; H2S < 0,01 mg/l;  NH3 < 0,1mg/l.

Định kỳ xử lý nước và đáy ao bằng chế phẩm sinh học theo hướng dẫn của nhà sản xuất, để cải thiện chất lượng nước, tạo môi trường tốt cho tôm sinh trưởng và phát triển.

2.2 Đối với nuôi tôm – lúa, quảng canh và quảng canh cải tiến:

– Cần giữ mực nước trên mặt ruộng sâu từ 0,6 – 0,8 m và mương sâu 1 – 1,2 m. Nếu ao nuôi bị thất thoát nước do rò rỉ, thẩm lậu, bốc hơi,… người nuôi cần cấp thêm nước kịp thời vào ao nuôi từ ao lắng đã dự trữ sẵn.

– Trong quá trình nuôi, cần thường xuyên kiểm tra các chỉ tiêu như màu nước, pH, độ trong, ôxy hòa tan, độ kiềm và NH3 để có biện pháp xử lý kịp thời khi các yếu tố này biến động bất lợi cho tôm nuôi. Cần duy trì các yếu tố môi trường nước thích hợp như: độ trong 30 – 40 cm; độ kiềm 80 – 120 mg/l; độ mặn 10 – 25‰; pH 7,5 – 8,5; ôxy hòa tan > 4 mg/lít; H2S < 0,01 mg/l; NH3 < 0,1 mg/l.

Định kỳ xử lý nước và đáy ao bằng chế phẩm sinh học theo hướng dẫn của nhà sản xuất, để tạo môi trường tốt cho tôm sinh trưởng và phát triển./.

3 Đối với nuôi cá lồng bè:

– Nuôi cá lồng bè trên sông cần thường xuyên vệ sinh lồng nuôi sạch sẽ, thông thoáng để lưu thông nước, giảm vật bám, tăng oxy hòa tan trong nước. Đảm bảo độ sâu lồng nuôi luôn ở mức 2,5-3,0 m.

–  Chọn cở sở cung cấp giống uy tín, thả nuôi mật độ theo định mức cho từng đối tượng.

– Tăng cường sức đề kháng cho cá nuôi bằng cách bổ sung vitamin C, khoáng chất, men tiêu hóa theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Cho cá ăn vào thời điểm sáng sớm và chiều mát. Khi nhiệt độ nước trên 35°C thì giảm lượng thức ăn còn 1/3 so với bình thường. Ngừng cho cá ăn khi môi trường nước trên 39°C.

–  Các bè nuôi nên bố trí xa bờ từ 200 m trở lên và bè cách bè từ 4-6m, vị trí đặt bè nuôi có môi trường sạch, lưu tốc dòng chảy tốt (0,2-0,6m/giây).

– Khi thời tiết nắng nóng hoặc chuyển mùa, cần che lưới trên bề mặt lồng nuôi, hạ lồng đến mức nước phù hợp. Đồng thời, tăng cường quạt nước vào thời điểm từ 10h-18h để tránh phân tầng nhiệt độ nước, tăng cường oxy hòa tan ở tầng đáy; quạt nước, sục khí từ 2h đêm đến 4h sáng để tránh thiếu oxy hòa tan trong nước.

– Thay thế dần thức ăn cá tạp bằng thức ăn công nghiệp, tăng cường sức đề kháng cho cá bằng cách bổ sung cho cá ăn các loại thức ăn giàu đạm, định kỳ 2 lần/tháng bổ sung men vi sinh, vitamin C trộn vào thức ăn cho cá với liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Nông dân cho cá ăn

–  Treo các túi vôi + zeolite dạng hạt (5-10kg/túi) phía trên dòng chảy của lồngnuôi để giúp ổn định môi trường, khử các khí độc và mầm bệnh gây hại cho cá.

–  Nếu cá đạt kích cỡ thương phẩm, thị trường tốt cần có kế hoạch thu hoạch, nhằm giảm rủi ro.

– Nếu có cá chết phải được thu gom, xử lý đúng theo quy định. Không được vứt bừa bãi ra ngoài môi trường gây ô nhiễm, lây lan dịch bệnh cho khu vực xung quanh.

                                                                        Bài và ảnh: Nguyễn Hoàng Khang

Phòng Khuyến ngư