Bài viết “Một hecta lúa nuôi sống bao nhiêu người?” của Nguyên Phó chủ tịch Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Lê Minh Hoan không nhằm đưa ra một con số tuyệt đối về số người được một hecta lúa “nuôi sống”, mà chủ yếu đề xuất một cách nhìn mới đối với ngành hàng lúa gạo: không chỉ đo bằng năng suất, sản lượng, giá lúa hoặc kim ngạch xuất khẩu, mà phải đo bằng việc làm, thu nhập, sinh kế và giá trị được tạo ra trong toàn bộ chuỗi.
Điểm quan trọng nhất của bài viết là sự chuyển đổi từ ba cách tư duy cũ sang ba cách tư duy mới: Tư duy truyền thống: Sản xuất lúa- Người trồng lúa- Giá trị của hạt lúa; Tư duy mới được gợi mở: Phát triển ngành hàng lúa gạo-Người làm nghề lúa- Giá trị của cả hệ sinh thái sinh kế từ lúa
Nếu chỉ tính lao động trực tiếp ngoài đồng, một hecta lúa cơ giới hóa cao có thể chỉ sử dụng khoảng 20–30 ngày công/vụ. Nhưng phía sau diện tích đó còn có người sản xuất giống, đại lý vật tư, kỹ thuật viên, chủ máy, lái máy, thương lái, tài công ghe, lái xe, công nhân kho – sấy – xay xát, kiểm nghiệm viên, nhân viên xuất khẩu, ngân hàng, bảo hiểm và nhiều dịch vụ khác.

Do đó, câu hỏi “một hecta lúa nuôi sống bao nhiêu người?” thực chất là câu hỏi về:
- Một hecta lúa kích hoạt bao nhiêu hoạt động kinh tế;
- Tạo ra bao nhiêu việc làm trực tiếp và gián tiếp;
- Lợi ích được phân bổ cho những ai;
- Nông dân giữ lại được bao nhiêu giá trị;
- Chuỗi lúa gạo có tạo thêm nghề mới cho nông thôn hay không.
Có thể nói, đây là một cách tiếp cận đúng và rất phù hợp với bối cảnh hiện nay. Cơ giới hóa có thể làm giảm số ngày công trực tiếp trên ruộng, nhưng không nhất thiết làm giảm việc làm của toàn ngành. Việc làm có xu hướng dịch chuyển từ lao động thủ công sang dịch vụ máy nông nghiệp, drone, logistics, kiểm soát chất lượng, dữ liệu số, quản trị HTX, chế biến phụ phẩm và quản lý carbon. Vì vậy, mục tiêu phát triển ngành lúa không nên là giữ người lao động ở lại với những công việc nặng nhọc, năng suất thấp, mà phải tạo điều kiện để họ chuyển sang những công việc có kỹ năng, năng suất và thu nhập cao hơn.

Thông điệp sâu sắc của nguyên Bộ trưởng Lê Minh Hoan là: chuyển đổi ngành hàng lúa gạo trước hết là chuyển đổi cách nhìn về con người và sinh kế. Một hecta lúa không chỉ là đơn vị đất đai hay sản lượng; đó là điểm khởi đầu của một mạng lưới kinh tế gồm sản xuất, dịch vụ, logistics, chế biến, công nghệ, thương mại và môi trường.

Đối với An Giang, thành công của Đề án lúa chất lượng cao, phát thải thấp không chỉ được đo bằng việc đạt 352.787 ha, mà phải được đo bằng:
NÔNG DÂN CÓ THU NHẬP CAO HƠN; HTX MẠNH HƠN; NHIỀU VIỆC LÀM CÓ KỸ NĂNG HƠN; NHIỀU GIÁ TRỊ ĐƯỢC GIỮ LẠI TẠI ĐỊA PHƯƠNG HƠN; VÀ MÔI TRƯỜNG ĐỒNG RUỘNG TỐT HƠN. Nói cách khác, đích đến không phải chỉ là sản xuất nhiều lúa hơn, mà là tạo nhiều giá trị hơn cho con người sống nhờ cây lúa.
Xin cảm ơn Nguyên Bộ trưởng Lê Minh Hoan, đã gửi cho An Giang một bài Viết ngắn mà mang đầy giá trị cho Ngành Nông nghiệp.
Văn Dũng-TTKN
(Xem chi tiết bài viết ” Một ha lúa nuôi sống bao nhiêu người?”)
Một hecta lúa nuôi sống bao nhiêu người?
Khi bàn về ngành hàng lúa gạo, chúng ta thường nói đến năng suất, sản lượng hay kim ngạch xuất khẩu.
Một hecta lúa cho bao nhiêu tấn thóc?
Một kilogram lúa bán được bao nhiêu tiền?
Một năm xuất khẩu được bao nhiêu triệu tấn gạo?
Đó đều là những chỉ số quan trọng. Nhưng nếu nhìn từ góc độ phát triển nông thôn và sinh kế cộng đồng, có một câu hỏi khác đáng để suy ngẫm: Một hecta lúa thực sự đang tạo việc làm cho bao nhiêu người? Khi trả lời được câu hỏi đó, chúng ta sẽ thấy ngành lúa gạo không chỉ là câu chuyện của người nông dân trồng lúa, mà là sinh kế của cả một hệ sinh thái kinh tế nông thôn.
Nếu chỉ nhìn trên cánh đồng
Một hecta lúa hiện nay được cơ giới hóa khá cao.
Từ làm đất, gieo sạ đến thu hoạch.
Nếu tính trực tiếp trên đồng ruộng, một hecta lúa chỉ cần:
- chủ hộ sản xuất;
- lao động gia đình;
- dịch vụ máy cày;
- dịch vụ gieo sạ;
- dịch vụ phun thuốc;
- dịch vụ thu hoạch.
Tổng lao động trực tiếp quy đổi thường không lớn. Thậm chí nhiều nơi chỉ còn khoảng 20-30 ngày công lao động trực tiếp cho mỗi vụ. Nếu nhìn theo cách này, người ta dễ cho rằng ngành lúa gạo tạo ra ít việc làm. Nhưng đó là một cách nhìn chưa đầy đủ.
Đằng sau một hecta lúa là cả một hệ sinh thái lao động
Một hecta lúa không chỉ có người trồng lúa. Phía sau nó còn có:
Đầu vào sản xuất
- người sản xuất giống;
- đại lý vật tư nông nghiệp;
- nhân viên kỹ thuật;
- người vận chuyển vật tư;
- cơ sở cơ khí sửa chữa máy móc.
Dịch vụ nông nghiệp
- chủ máy cày;
- lái máy cày;
- chủ máy gặt;
- lái máy gặt;
- dịch vụ bơm tưới;
- dịch vụ drone phun thuốc;
- dịch vụ sấy lúa.
Thu mua và logistics
- thương lái;
- nhân công bốc xếp;
- lái xe vận tải;
- chủ ghe vận chuyển;
- nhân viên kho bã
Chế biến
- nhà máy xay xát;
- nhà máy lau bóng;
- nhà máy đóng gói;
- nhân viên kiểm nghiệm chất lượng.
Thương mại
- doanh nghiệp xuất khẩu;
- nhân viên kinh doanh;
- marketing;
- logistics quốc tế;
- ngân hàng;
- bảo hiểm.
Một hecta lúa thực chất đang nuôi sống rất nhiều con người mà chúng ta ít khi nhìn thấy.
Thử hình dung theo tư duy hệ sinh thái
Giả sử một hecta lúa sản xuất khoảng 18-20 tấn lúa mỗi năm (3 vụ). Lượng lúa đó sẽ đi qua hàng chục bàn tay khác nhau trước khi trở thành một bao gạo trên kệ siêu thị. Nếu quy đổi toàn bộ chuỗi giá trị, từ sản xuất đến tiêu dùng, mỗi hecta lúa có thể tạo ra việc làm trực tiếp và gián tiếp cho nhiều nhóm lao động khác nhau.
Không phải một người. Không phải hai người. Mà là cả một mạng lưới sinh kế. Điều đó giúp chúng ta hiểu rằng: Giá trị lớn nhất của cây lúa không chỉ nằm ở hạt gạo, mà còn nằm ở số lượng việc làm và sinh kế mà nó tạo ra.
Một góc nhìn mới cho An Giang
Nếu An Giang có khoảng hàng trăm nghìn hecta sản xuất lúa, thì điều cần quan tâm không chỉ là sản lượng bao nhiêu triệu tấn, mà còn là:
- có bao nhiêu lao động đang sống nhờ ngành lúa gạo;
- thu nhập của họ như thế nào;
- vị trí của họ trong chuỗi giá trị ra sao.
Bởi trong thực tế, người sống nhờ cây lúa không chỉ là nông dân. Đó còn là:
- chủ cơ sở cơ khí;
- tài công ghe;
- lái xe tải;
- công nhân nhà máy;
- nhân viên xuất khẩu;
- thương lái;
- cán bộ HTX;
- kỹ sư nông nghiệp;
- chuyên gia công nghệ.
Tất cả đều là “người làm nghề lúa”.
Từ sản xuất lúa sang hệ sinh thái nghề lúa
Trong tư duy cũ, chúng ta thường nói: “Người nông dân trồng lúa”.
Trong tư duy mới, cần nói rộng hơn: “Người làm nghề lúa”. Nghề lúa không chỉ có người gieo hạt, mà còn có:
- người cung cấp dịch vụ;
- người tổ chức sản xuất;
- người thu mua;
- người vận chuyển;
- người chế biến;
- người xây dựng thương hiệu;
- người bán sản phẩm ra thế giới.
Khi nhìn như vậy, ngành hàng lúa gạo không còn là một ngành kinh tế đơn lẻ.Nó trở thành một hệ sinh thái việc làm của nông thôn.
Chuyển đổi ngành hàng là chuyển đổi sinh kế
Vì vậy, khi An Giang chuyển đổi ngành hàng lúa gạo, mục tiêu không nên chỉ là tăng năng suất hay tăng giá trị xuất khẩu, mà còn phải trả lời được câu hỏi:
Ngành lúa gạo mới sẽ tạo ra thêm những nghề gì?
Liệu người trẻ có thể trở thành:
- kỹ sư drone;
- chuyên gia dữ liệu nông nghiệp;
- nhân viên logistics;
- quản lý HTX;
- chuyên gia tín chỉ carbon;
- doanh nhân khởi nghiệp từ phụ phẩm lúa gạo?
Nếu làm được điều đó, một hecta lúa sẽ không chỉ tạo ra nhiều hạt gạo hơn, mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn. Và đó mới chính là ý nghĩa sâu xa nhất của chuyển đổi ngành hàng lúa gạo An Giang: Không chỉ nâng giá trị của hạt lúa, mà nâng giá trị của con người sống nhờ hạt lúa.




































































