Vừa qua, tại ấp Vĩnh An, xã Vĩnh Gia, tỉnh An Giang, mô hình tạm trữ cá trong ruộng lúa mùa nổi đã bước vào giai đoạn thả cá giống. Với việc đưa cá lóc và cá trê vào hệ thống ruộng – ao trong mùa nước, mô hình hướng đến khai thác hiệu quả điều kiện sinh thái vùng lũ, đa dạng hóa sinh kế và tạo thêm giá trị trên cùng một diện tích sản xuất.
Vĩnh Gia là địa bàn có truyền thống gắn với lúa mùa nổi. Năm 2026, địa phương tiếp tục thúc đẩy mô hình sinh kế mùa lũ theo hướng bảo tồn lúa mùa nổi gắn với tạm trữ cá tự nhiên. UBND xã Vĩnh Gia cũng đã triển khai các hoạt động kết nối “4 nhà”, tạo nền tảng để người dân, cơ quan quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp cùng tham gia phát triển mô hình.
Khu vực mô hình tại ấp Vĩnh An được khảo sát với diện tích ruộng nuôi cá 25 ha. Tổ nông dân do ông Nguyễn Văn Nâu làm tổ trưởng đại diện triển khai mô hình.
Trước khi thả, các điều kiện ao ương và chất lượng nước được kiểm tra.. Các hạng mục vệ sinh, gia cố bờ, lắp túi lọc lấy nước và bố trí vèo được kiểm tra theo yêu cầu kỹ thuật; vật tư chuẩn bị gồm 100 kg vôi, 50 kg muối hột, 2 lít thuốc tím cùng vitamin và men tiêu hóa.

Mẫu cá được kiểm tra kết quả ghi nhận cá trê có khối lượng trung bình 16,06 g/con, chiều dài trung bình 11,92 cm; cá lóc có khối lượng trung bình 5,3 g/con, chiều dài trung bình 8,32 cm. Đây là cơ sở để đánh giá chất lượng, kích cỡ và tính đồng đều của cá giống trước khi đưa vào mô hình.
Mô hình tiếp nhận tổng cộng 50.000 con cá giống nước ngọt, gồm 35.000 con cá lóc, quy cách khoảng 5,3 g/con và 15.000 con cá trê, quy cách khoảng 16 g/con. Thả cá vào 3 vèo nuôi tạm khi mực nước thích hợp sẽ cho cá ra ruộng.
Điểm đáng chú ý của mô hình là cách tiếp cận không tách rời sản xuất lúa và thủy sản. Khi nước lũ về, ruộng lúa mùa nổi tạo không gian sinh thái cho thủy sản; cá vừa tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên, vừa góp phần tạo thêm sản phẩm hàng hóa cho nông hộ. Cách làm này phù hợp với định hướng phục hồi giá trị của lúa mùa nổi và phát triển sinh kế thích ứng với điều kiện ngập lũ.
Hiệu quả của mô hình không chỉ được đo bằng sản lượng cá cuối vụ. Việc quản lý nước, bảo vệ bờ bao – lưới chắn, theo dõi môi trường, ghi chép nhật ký và tuân thủ quy trình kỹ thuật sẽ quyết định khả năng duy trì tỷ lệ sống và chất lượng cá. Đặc biệt, việc chủ động kiểm tra các chỉ tiêu pH, oxy hòa tan, NH3 và theo dõi sức khỏe đàn cá cần được thực hiện thường xuyên trong suốt mùa nuôi.
Đại diện tổ nông dân thống nhất tham gia mô hình, cam kết tập huấn kỹ thuật, theo dõi tình trạng cá, thực hiện đúng hướng dẫn của cán bộ khuyến nông và đơn vị chuyên môn, ghi chép nhật ký, công khai tài chính trong tổ và bảo quản vật tư được hỗ trợ. Đây là những điều kiện quan trọng để mô hình có số liệu thực tế, từ đó đánh giá khả năng nhân rộng.
Trong bối cảnh An Giang đang đẩy mạnh bảo tồn và nâng tầm giá trị lúa mùa nổi, mô hình tạm trữ cá tại ấp Vĩnh An có thể trở thành một mắt xích đáng chú ý trong chuỗi sinh kế mùa lũ. Nếu quản lý tốt môi trường nước, tỷ lệ sống, chi phí đầu vào và đầu ra sản phẩm, mô hình sẽ góp phần chuyển lợi thế mùa nước thành giá trị kinh tế, đồng thời giữ lại những giá trị sinh thái và văn hóa đặc trưng của vùng đầu nguồn.
Tin và ảnh: Ngô Huyền Trang


































































