Thực hiện Dự án Mekong NbS, Trung tâm Khuyến nông An Giang phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai mô hình nuôi cá trên ruộng lúa ngập lũ, góp phần khai thác hiệu quả nguồn nước mùa lũ, đa dạng hóa sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân.
Thực hiện định hướng phát triển sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, năm 2026, Trung tâm Khuyến nông An Giang phối hợp với Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên tại Việt Nam (WWF), Chi cục Thủy sản, chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan triển khai hợp phần sinh kế dựa vào lũ thuộc Dự án Mekong NbS.
Trên cơ sở khảo sát điều kiện sản xuất, hệ thống thủy lợi và khả năng tiếp nhận nước lũ, các đơn vị đã lựa chọn 18 tổ hợp tác tại 7 xã gồm An Cư, Thạnh Mỹ Tây, Vĩnh Gia, Ngọc Chúc, Giồng Riềng, Hòa Thuận và Vĩnh Hòa Hưng tham gia mô hình nuôi cá ruộng mùa lũ, với tổng diện tích 433 ha và 105 thành viên.
Mô hình hướng đến tận dụng diện tích ruộng sau thu hoạch lúa hè thu để nuôi cá trong mùa nước nổi, kết hợp khai thác nguồn thức ăn tự nhiên từ lúa chét, gốc rạ và sinh vật thủy sinh. Qua đó, người dân có thêm nguồn thu trong thời gian đất lúa không sản xuất vụ mới, đồng thời góp phần phát huy giá trị tài nguyên đất và nước theo hướng thuận thiên.

Chú trọng tập huấn, chuyển giao kỹ thuật cho nông dân
Để bảo đảm mô hình được triển khai đúng quy trình, Trung tâm Khuyến nông An Giang phối hợp với dự án tổ chức các hoạt động đào tạo, tập huấn và hướng dẫn kỹ thuật cho cán bộ, tổ hợp tác và nông dân tham gia.
Ngày 19/6/2026, lớp huấn luyện nâng cao năng lực giáo viên và cán bộ quản lý (ToT) được tổ chức tại phường Rạch Giá với 80 học viên tham dự. Từ ngày 29/6 đến ngày 1/7/2026, ba lớp học nông dân (FFS) được tổ chức tại các xã Ngọc Chúc, Vĩnh Gia và Thạnh Mỹ Tây, với 21 lượt nông dân và 27 lượt cán bộ tham gia.

Nội dung tập huấn tập trung vào kỹ thuật cải tạo, vệ sinh và sát khuẩn ao ương; theo dõi chất lượng nước; chăm sóc, quản lý sức khỏe cá; kỹ thuật ương cá giống trước khi đưa ra ruộng và phương pháp thu hoạch, ghi chép nhật ký sản xuất.
Bên cạnh hoạt động tập huấn, các tổ hợp tác còn được dự án hỗ trợ 100% con giống, thức ăn công nghiệp trong giai đoạn ương cá giống, đèn năng lượng và 50% lưới đăng. Đây là nguồn hỗ trợ thiết thực, giúp người dân giảm một phần chi phí đầu tư ban đầu, đồng thời có điều kiện tiếp cận và áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
Thả hơn 544.000 con cá giống các loại trên diện tích 433 ha
Trong năm 2026, Trung tâm Khuyến nông An Giang phối hợp với WWF hoàn thành việc thả 544.000 con cá giống cho 18 tổ hợp tác trên tổng diện tích 433 ha. Các đối tượng nuôi gồm cá mè hoa, cá chép, cá lóc, cá rô và cá trê, được lựa chọn phù hợp với điều kiện sản xuất và khả năng quản lý của từng khu vực.
Một điểm đáng chú ý của mô hình là áp dụng kỹ thuật ương cá giống trong ao đất trước khi chuyển ra ruộng ngập lũ đối với những tổ có điều kiện. Thời gian ương khoảng 30–45 ngày giúp cá tăng kích cỡ, nâng cao khả năng thích nghi trước khi đưa ra môi trường ruộng lúa. Kết quả theo dõi tại một số điểm cho thấy cá sau giai đoạn ương đạt trọng lượng trên 20 g/con, tỷ lệ sống dao động từ 87–95%.

Sau khi chuyển cá ra ruộng, cán bộ kỹ thuật tiếp tục theo dõi tốc độ tăng trưởng, chất lượng môi trường nước và tình hình sức khỏe cá để hướng dẫn các tổ hợp tác điều chỉnh biện pháp chăm sóc phù hợp.
Kết quả thực tế cho thấy điều kiện môi trường nước có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng sinh trưởng của cá. Những khu vực có mực nước duy trì tương đối cao, ruộng có nhiều lúa chét và nguồn thức ăn tự nhiên phong phú ghi nhận tốc độ tăng trưởng tốt hơn. Ngược lại, các khu vực nước thấp, nhiệt độ cao hoặc nước rút nhanh khiến cá chậm lớn, đòi hỏi người nuôi phải chủ động điều chỉnh kế hoạch chăm sóc và thu hoạch.
Bước đầu mang lại nguồn thu cho người dân
Theo kết quả theo dõi mô hình, một số tổ hợp tác tại xã Ngọc Chúc đã tiến hành thu tỉa cá rô để bán cho thương lái và thị trường địa phương. Tổ hợp tác Thành Dự đã thu tỉa khoảng 650 kg cá các loại, với doanh thu ghi nhận 75 triệu đồng; tổ hợp tác Ngọc Ngân thu tỉa khoảng 700 kg, doanh thu khoảng 80 triệu đồng, các tổ đang tích cực thu hoạch để bán được giá cao trước khi nước rút.
Những kết quả bước đầu cho thấy mô hình có khả năng tạo nguồn thu trong mùa lũ, đồng thời giúp người dân từng bước tiếp cận phương thức sản xuất kết hợp giữa lúa và thủy sản. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế đầy đủ cần được đánh giá sau khi kết thúc thu hoạch, trên cơ sở tổng hợp chi phí đầu tư, công lao động, sản lượng và doanh thu thực tế của từng tổ hợp tác.

Theo kế hoạch triển khai, các tổ nuôi cá tập trung thu hoạch trong khoảng thời gian từ cuối tháng 10 đến giữa tháng 11/2026, tùy điều kiện mực nước và tình hình sinh trưởng của cá. Sau 2 tháng thả cá sang ruộng các tổ cá Mè phải tiến hành thu hoạch sớm, kích cở đạt bình quân 500 g/con.
Dự kiến, sản lượng cá thu hoạch của mô hình đạt khoảng 100–140 tấn trên diện tích 433 ha. Đây là sản lượng ước tính tại thời điểm báo cáo, kết quả thực tế sẽ được xác định sau khi hoàn thành thu hoạch.
Hướng đến phát triển sinh kế mùa lũ bền vững
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai mô hình năm 2026 cũng gặp không ít khó khăn do nước lũ lên chậm, mực nước duy trì mức thấp và rút nhanh, làm rút ngắn thời gian nuôi cá trên ruộng.
Từ thực tế này, Trung tâm Khuyến nông An Giang xác định trong giai đoạn tiếp theo cần tiếp tục khảo sát, lựa chọn các vùng có khả năng tiếp nhận và duy trì nước lũ; củng cố tổ hợp tác, thống nhất quy ước quản lý vùng nuôi; lựa chọn cơ sở cung cấp con giống có nguồn gốc rõ ràng; tăng cường tập huấn kỹ thuật ương cá, chăm sóc và phòng bệnh.
Đồng thời, việc kết nối với thương lái, cơ sở thu mua, chế biến và hợp tác xã cần được chú trọng nhằm chủ động đầu ra, hạn chế tình trạng thu hoạch đồng loạt gây áp lực lên giá bán. Công tác ghi chép chi phí, theo dõi năng suất, doanh thu và lợi nhuận cũng cần được thực hiện đầy đủ để đánh giá chính xác hiệu quả mô hình, làm cơ sở hoàn thiện quy trình và xem xét nhân rộng.
Về lâu dài, phát triển sinh kế mùa lũ không chỉ hướng đến nâng cao thu nhập cho người dân mà còn góp phần sử dụng hợp lý nguồn nước, đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp và thích ứng với biến đổi khí hậu. Với sự phối hợp giữa ngành nông nghiệp, các tổ chức hỗ trợ, chính quyền địa phương và cộng đồng nông dân, mô hình nuôi cá ruộng mùa lũ được kỳ vọng sẽ tiếp tục được hoàn thiện, từng bước trở thành hướng sinh kế phù hợp với điều kiện tự nhiên và nhu cầu phát triển bền vững của tỉnh An Giang.
Bài và ảnh: Ngô Thị Hạnh


































































