Những lưu ý khi sử dụng chế phẩm sinh học xử lý môi trường ao nuôi thủy sản

Trong những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường đang xảy ra nghiêm trọng trong nuôi trồng thủy sản do phần lớn là các chất hữu cơ dư thừa từ thức ăn, phân và các chất thải khác đọng lại dưới đáy ao. Ngoài ra, còn có các hóa chất, kháng sinh được sử dụng trong quá trình nuôi cũng được tồn dư mà chưa được xử lý. Việc hình thành lớp bùn đáy do tích tụ lâu ngày của các chất hữu cơ, cặn bã là nơi sinh sống của các sinh vật gây hôi thối, các vi sinh vật sinh các khí độc như amonia, nitric, hydrogen sunphua…Các vi sinh vật gây bệnh như: Vibrio, Aeromonas, Ecoli, Pseudomonas… nhiều loại nấm và nguyên sinh động vật.

Vì vậy, chế phẩm sinh học được coi là một công cụ hữu hiệu để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong ao nuôi, tạo nền tảng vững chắc cho phần lớn hoạt động nuôi trồng thủy sản trên thế giới thay thế phương pháp truyền thống kiểm soát vi khuẩn hoặc giảm thiểu tác hại gây bệnh bằng sử dụng các hóa chất diệt khuẩn hay kháng sinh. Khác với biện pháp hóa học và kháng sinh, chế phẩm sinh học cung cấp một phương thức an toàn và bền vững đối với người nuôi và tiêu dùng là sử dụng các chủng vi sinh đối kháng để kiểm soát quần thể các vi sinh vật gây hại thông qua việc cạnh tranh để loại trừ lẫn nhau.

Sử dụng chế phẩm sinh học trong ao nuôi

Mặc dù nhiều loại chế phẩm sinh học đã được đưa vào sử dụng trong nuôi trồng thủy sản từ vài thập niên qua, nhưng việc chọn và sử dụng chủ yếu theo kinh nghiệm. Do đó, để chế phẩm sinh học phát huy hiệu quả, người nuôi thủy sản cần phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:

– Chỉ sử dụng các sản phẩm có trong danh mục được phép lưu hành của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Sản phẩm phải có nhãn mác hàng hóa, xuất xứ theo qui định và có thông tin về hướng dẫn sử dụng theo qui định.

– Không được sử dụng chế phẩm sinh học cùng với các loại hóa chất có tính diệt khuẩn như: BKC, thuốc tím, Chlorine, Iodine, Vikon, kháng sinh…. Đồng thời, không sử dụng chế phẩm sinh học khi các chất trên đang hiện diện trong môi trường nước.

– Sau khi sử dụng hóa chất và kháng sinh từ 3-4 ngày cần bổ sung chế phẩm sinh học để khôi phục lại hệ vi sinh có lợi trong ao, nhằm cải thiện chất lượng nước và đáy ao.

– Sử dụng chế phẩm sinh học trước khi thả giống do môi trường ao nuôi đã được cải tạo và diệt khuẩn kỹ nên cần liều chế phẩm sinh học đầu tiên để nhân rộng sinh khối vi khuẩn có lợi đủ để lấn át vi khuẩn có hại và mầm bệnh tiềm tàng trong ao.

– Thường xuyên theo dõi sàn ăn và kiểm tra bùn đáy ao để xử lý liều vi sinh thích hợp. Môi trường đáy ao biến động xấu, đối tượng nuôi sẽ ăn nhiều thức ăn trong sàn nên người nuôi có thể cho ăn nhiều hơn hoặc tăng cử ăn sẽ làm môi trường xấu hơn, khi đó phải tăng liều vi sinh thì sẽ tăng chi phí và lãng phí thức ăn.

Bón chế phẩm sinh học trong xử lý môi trường ao nuôi thủy sản

– Khi môi trường ao nuôi có dấu hiệu suy giảm chất lượng như hàm lượng các khí độc cao (NH3, H2S, NO2…) nước nhiều cặn bã, nước phát sáng thì chế phẩm sinh học được sử dụng sớm hơn so với bình thường.

– Sử dụng chế phẩm sinh học phải định kỳ và kiên trì trong suốt quá trình nuôi để duy trì một mật độ vi khuẩn thích hợp nhằm kiểm soát sinh học môi trường nước và đáy ao, ổn định các điều kiện mong muốn trong môi trường ao nuôi, định kỳ 7-10 ngày/lần.

– Thời gian sử dụng chế phẩm sinh học tốt nhất vào lúc buổi sáng (từ 8-10 giờ) và khi môi trường ao đủ lượng oxy hòa tan để các dòng vi khuẩn nhanh chóng được khởi động và nhân rộng sinh khối.

Kiểm tra môi trường ao nuôi

– Chế phẩm sinh học cần được bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp và nơi ẩm thấp. Nếu sử dụng không hết thì nên đậy kín phần còn lại, cần tránh ẩm để không bị vón cục.

– Sử dụng chế phẩm sinh học phải đúng liều lượng và cách pha theo hướng dẫn của nhà sản xuất sẽ giúp chế phẩm sinh học phát huy tác dụng tốt nhất, hiệu quả kinh tế nhất. Chế phẩm sinh học cải tạo môi trường sẽ phát huy tác dụng sau khi sử dụng khoảng 3-5 ngày được thể hiện qua màu nước và các chỉ tiêu môi trường.

Bài và ảnh: Nguyễn Thị Thúy Nga