I. Đặc điểm sinh học:
1. Hình thái cấu tạo và phân loại:
Cua biển Scylla sp là loài phân bố rộng rãi ở vùng Ấn độ -Thái Bình Dương. Tuy nhiên, do sự khác nhau về màu sắc và kích cỡ, một số đặc điểm khác nên cua biển có nhiều dạng khác nhau. Estampador (1949) chia giống Scylla thành một số loài, trong đó có loài Scylla serrata, Scylla olivacea, Scylla paramamosain và Scylla tranquebarica.
Loài cua biển ở nước ta theo Keenan (1998) và Macintosh (1998) là 2 loài: S. paramamosain (Cua sen) và S. olivacea (Cua lửa).

Hệ thống phân loại cua biển
Ngành Arthropoda
Lớp Crustacea
Lớp phụ Malacostraca
Bộ Decapoda
Họ Portunidae
Giống Scylla sp
Loài Scylla paramamosain
2. Dinh dưỡng:
Thức ăn của cua thay đổi theo từng giai đoạn phát triển. Cua con CW 2-7 cm ăn chủ yếu là giáp xác; cua sắp trưởng thành, CW 7-13 cm, ăn nhiều bọn hai mảnh vỏ và động vật chân bụng, trong khi đó cua lớn hơn thường ăn cua con và cá (Jayamane và Jinadasa, 1991). Cua thường bắt mồi vào ban đêm. Chúng dùng các ngón chân bò để tiếp xúc và định vị thức ăn (Hill, 1979).
Ở giai đoạn ấu trùng, thức ăn ưa thích là động vật phiêu sinh, ấu trùng giáp xác và nhuyễn thể,… Trong điều kiện nuôi, ấu trùng cua được cho ăn với nhiều loại thức ăn khác nhau như: Chlorella, Tetraselmis, Isochrysis, Spirulina, luân trùng, Artemia và thức ăn viên kích thước nhỏ. Khác với cua lớn hoạt động nhiều về đêm, ấu trùng cua có tính hướng quang rất mạnh và có thể dùng ánh sáng để kích thích chúng ăn mồi.
3. Sinh trưởng:
Ở giai đoạn cua 1 (C1), cua có kích cỡ trung bình 3 mm. Sau 01 tháng ương, chúng lột xác khoảng 5-6 lần và đạt kích cỡ 1,5-2 cm. Sau 2 tháng ương đạt khoảng 2-3 cm. Cua giống (2 – 3cm) nuôi 4 tháng đạt 250 – 400gram. Có thể lột xác 14-16 lần trong 1 năm. Cua lớn nhất ngoài tự nhiên có thể đạt 3 kg/con đối với Scylla serrata; hay 1 kg/con đối với cua khác trong đó có loài Scylla paramamosain thường được nuôi phổ biến hiện nay.
II. Kỹ thuật nuôi cua biển trong ao
1. Chọn vị trí nuôi:
– Phải nằm trong vùng qui hoạch.
– Chất đất là loại đất thịt pha sét hay pha cát, đất và nước ít bị nhiễm phèn, có nguồn nước sạch dồi dào và điều kiện môi trường tốt để cho cua phát triển. Xa khu vực dân cư đông đúc.

2. Các chỉ tiêu môi trường nước:
| Các chỉ tiêu | Giới hạn chịu đựng | Giới hạn tốt nhất |
| Độ mặn (0/00) | 2 – 38 | 15 – 25 |
| Nhiệt độ (0C) | 25 – 33 | 28 – 30 |
| pH | 6,5 – 9,5 | 7,5 – 8,5 |
| Độ kiềm (mg/lít) | 50 – 150 | 80 – 120 |
| Oxy hòa tan (mg/lít) | 2 – 7 | 5 – 6 |
3. Thiết kế ao
Ao nuôi cua con thành cua thương phẩm thường có diện tích từ 1.000m2 đến 5.000m2. Ao sâu từ 1 – 1,5m.
Bờ ao: Cần được nén kỹ để chống mọi, rò rỉ và sạt lở. Chân bờ ao rộng từ 3 – 4m, chiều cao từ 1,5 – 2m, cao hơn mực nước triều cao nhất ít nhất là 0,5m.
Trên bờ nên làm lưới chắn quanh không cho cua vượt ra ngoài, có thể dùng lưới cước loại thưa bao quanh, đăng tre,.. lưới chắn phải nghiêng về phía trong ao một góc 60 độ, cao từ 0,8 – 1m.
Cống: Mỗi ao nuôi nên có hai cống ở hai đầu đối diện nhau, nếu ao hình chữ nhật thì hai cống sẽ đặt ở hai bờ thuộc chiều rộng. Cống thoát đặt sát đáy và thông với mương trong ao.
Mương: Rộng 3 – 4 mét bao quanh ao, trong mương nên bỏ thêm chà cho cua ẩn nấp.
4. Cải tạo ao:
Tuỳ theo độ pH của đất ao nuôi mà bón vôi cho phù hợp, có thể dùng vôi nông nghiệp (CaCO3) hoặc vôi nung (CaO) để bón. Cụ thể như sau:
| Độ pH của đất | Vôi CaCO3 | Vôi CaO |
| > 6 | 0,7 – 1 tấn/ha | 0,2 – 0,3 tấn/ha |
| 5 – 6 | 1,2 – 1,5 tấn/ha | 0,5 – 0,7 tấn/ha |
| < 5 | 1,5 – 2,5 tấn/ha | 0,7 – 1,2 tấn/ha |
Sau khi bón vôi phơi đáy ao 2 – 3 ngày, cho nước ra vào 3 – 4 lần xả sạch nước phèn. Tiếp theo chọn con nước tốt để cấp vào ao thông qua lưới lọc. Diệt khuẩn và các mầm bệnh bằng chlorine 20 kg/1000m3 hay các hợp chất khác như Vikon A, Iodine, Glutacerol… (liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất). Diệt các loài cá tạp bằng dây thuốc cá 1,5 kg/100m3.

Gây màu nước: Sử dụng một trong các cách sau:
Cách 1: Dùng phân vô cơ NPK (20-20-0) ngâm tan trong nước và tạt khắp ao lúc nắng tốt với liều lượng 1 – 3 kg/1.000m3.
Cách 2: Phối hợp cám mịn với bột đậu nành theo tỷ lệ 1:1, đem nấu chín, ngâm ủ khoảng một ngày rồi hòa nước tạt khắp mặt nước ao, ruộng nuôi với liều lượng từ 3 – 5 ký/1.000m3 nước. Ngoài ra, có thể dùng các sản phẩm gây màu nước có bán trên thị trường.
5. Chọn giống và thả giống:
Ngày nay với sự tiến bộ kỹ thuật đã cho cua sinh sản nhân tạo thành công và được trao đổi buôn bán nhiều nơi dưới sự kiểm tra của cơ quan chức năng.
Chọn giống và mật độ thả:
| Cỡ giống | Mật độ thả |
| Chiều rộng mai từ 0,5 – 0,7cm | 2 – 3 con/m2 |
| Chiều rộng mai từ 1 – 1,5cm | 1 – 2 con/m2 |
| Chiều rộng mai từ 3 – 4cm | 0,5 – 1 con/m2 |

Tốt nhất là nên bắt cua giống địa phương vì đã thích nghi với điều kiện môi trường tại địa phương nên thả ít bị hao hụt.
Trong từng ao nên thả cua cùng cỡ, màu sắc tươi sáng, không nhiễm bệnh, các phụ bộ còn nguyên. Cũng có thể chọn cỡ cua theo mong muốn ngay ở nơi cung cấp cua giống hoặc tuyển chọn trước lúc thả nuôi.
Cách thả giống:
Dùng nước ao tưới vào khay chứa cua để cua thích nghi dần với điều kiện môi trường nuôi, rồi thả cua từ từ xuống ao. Thả giống ở nhiều điểm khác nhau để cua phân tán đều khắp ao.
Đây cũng là cách để kiểm tra tình trạng sức khoẻ của cua: những con khoẻ mạnh nhanh chóng chạy xuống nước, những con yếu thường nằm tại chỗ hoặc bò chậm. Những con như vậy thu lại cho vào giai để theo dõi, nếu phục hồi thì thả xuống ao.

6. Cho ăn, quản lý và chăm sóc:
Cho ăn: Cua nuôi trong ao phải cung cấp thức ăn hàng ngày, lượng thức ăn tự nhiên trong ao không có nhiều. Thức ăn chủ yếu là thức ăn tươi sống: cá tạp, còng, ba khía, đầu cá, ốc đinh…
Lượng thức ăn hàng ngày khoảng 4 – 6% trọng lượng cua, cua thường hoạt động bắt mồi vào buổi tối. Mỗi ngày cho cua ăn một lần vào thời gian từ 17 – 18 giờ.
Cách cho ăn: Thức ăn được rải đều quanh ao để cua khỏi tranh nhau. Có thể dùng sàng ăn để kiểm tra sức ăn của cua. Sau 1 – 2 giờ cho ăn kiểm tra sàng ăn, nếu cua ăn hết thức ăn trong sàng thì có thể tăng lượng thức ăn vào buổi sau, nếu thức ăn vẫn còn dư trong sàng thì giảm lượng thức ăn.
Hàng ngày phải cho cua ăn, không nên để cua đói, cua sẽ ăn lẫn nhau, sẽ bị hao hụt nhiều. Vì vậy, nuôi cua phải có thức ăn dự trữ.

Những ngày không có thức ăn tươi sống thì cho cua ăn thức ăn khô: cá vụn, tép phơi khô. Trước lúc rải xuống ao cho cua ăn nên ngâm cá khô vào nước cho mềm ra rồi rải cho cua ăn.
Quản lý và chăm sóc: Việc đảm bảo môi trường nước trong sạch rất quan trọng đối với cua, nhất là nuôi mật độ dày cho ăn thức ăn tươi sống. Khi thay nước nên lấy ở tầng dưới hoặc tầng giữa tránh lấy nước ở tầng mặt thường hay bị ô nhiễm. Nước mới trong sạch sẽ kích thích cua hoạt động, ăn nhiều và lột xác tốt.
Độ mặn nước tốt nhất 15 – 25‰, độ mặn quá cao hay quá thấp hoặc thay đổi đột ngột đều không tốt cho cua. Trước khi trời mưa nên rải vôi CaCO3 hoặc Dolomite trong ao cả mé bờ với liều lượng 5 gram/m3.
Thường xuyên kiểm tra bờ ao, cống, lưới chắn tránh cua thất thoát ra ngoài.
Trong thời gian nuôi, khoảng 2 tuần một lần bắt cua cân để kiểm tra sinh trưởng của cua, xem xét tình trạng của cua: cua nhanh nhẹn, không bị ký sinh ngoài vỏ, xem trong xoang mang có bị ký sinh hay không. Nếu có hiện tượng bị nhiễm bệnh thì phải tìm nguyên nhân và biện pháp xử lý.
7. Thu hoạch:

Sau thời gian nuôi cua khoảng 150 ngày bắt đầu thu hoạch, dùng rập để bắt tỉa những cua lớn đạt kích cỡ thương phẩm (250 g/con) chắc thịt hoặc đã đầy gạch (cua cái) thì thu hoạch để bán. Những con không đạt tiêu chuẩn thì giữ lại nuôi tiếp.
Những con cua chưa đạt về kích thước, trọng lượng, cua ốp hoặc chưa đầy gạch nếu còn khoẻ mạnh thì có thể đem nuôi ở các ao nhỏ, nuôi vỗ tích cực sau một thời gian đạt tiêu chuẩn thu hoạch bán sẽ được giá hơn.
Bài và ảnh: Nguyễn Thị Thúy Nga


































































