Ngày 22/06/2026, tại An Giang, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang tổ chức Tọa đàm “Chuyển đổi số và quản lý phát thải khí nhà kính phục vụ phát triển vùng lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long”. Sự kiện thu hút sự tham dự của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hệ thống khuyến nông các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, các viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, hợp tác xã và đông đảo cán bộ khuyến nông, nông dân.
Tọa đàm diễn ra trong bối cảnh Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” đang bước sang giai đoạn triển khai sâu rộng. Sau hơn hai năm thực hiện, đề án đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong tổ chức sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và nâng cao nhận thức của người dân về sản xuất nông nghiệp xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Phát biểu khai mạc tọa đàm, ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia nhấn mạnh, mục tiêu của Đề án không chỉ là nâng cao thu nhập cho người trồng lúa mà còn hướng đến xây dựng nền sản xuất hiện đại, minh bạch, có trách nhiệm với môi trường. Trong tiến trình đó, chuyển đổi số và quản lý phát thải khí nhà kính được xem là hai trụ cột quan trọng, góp phần tổ chức lại sản xuất, quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và từng bước tham gia thị trường carbon.
Theo đánh giá của các đại biểu tham dự, chuyển đổi số trong nông nghiệp không đơn thuần là việc đưa các thiết bị công nghệ hay phần mềm vào sản xuất mà là quá trình thay đổi toàn diện phương thức quản lý dựa trên dữ liệu. Từ khâu giống, vật tư đầu vào, quản lý nước, ghi chép nhật ký sản xuất đến năng suất và lượng phát thải đều cần được số hóa, tạo nên hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ phục vụ công tác quản lý và hoạch định chính sách.
Đây cũng là một trong những nội dung được nhiều đại biểu quan tâm tại tọa đàm. Các ý kiến cho rằng, việc xây dựng cơ sở dữ liệu đồng ruộng là nền tảng để triển khai hiệu quả hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải khí nhà kính (MRV). Khi các thông tin được số hóa và cập nhật thường xuyên, ngành nông nghiệp sẽ có cơ sở khoa học để đánh giá hiệu quả sản xuất, minh bạch hóa quy trình canh tác, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Báo cáo tại tọa đàm cho thấy, sau hơn hai năm triển khai Đề án, hệ thống khuyến nông đã đạt nhiều kết quả tích cực trong công tác truyền thông, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phục vụ sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã biên soạn, phát hành nhiều tài liệu kỹ thuật; tổ chức đào tạo giảng viên nguồn, tập huấn cho cán bộ khuyến nông, hợp tác xã và nông dân; đồng thời phối hợp với doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế mở rộng các chương trình đào tạo tại địa phương.
Đáng chú ý, những địa phương tham gia Đề án đã thành lập Tổ Khuyến nông cộng đồng với 1.013 tổ và hơn 10.300 thành viên. Đây được xem là lực lượng nòng cốt trong việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, hướng dẫn nông dân ghi chép nhật ký sản xuất, áp dụng quy trình canh tác giảm phát thải và tổ chức liên kết sản xuất tại cơ sở.
Tại tọa đàm, tỉnh An Giang đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong triển khai Đề án. Đại diện ngành nông nghiệp địa phương cho biết, đến năm 2025, diện tích lúa chất lượng cao, phát thải thấp của tỉnh đã vượt 150.000 ha. Kết quả này có được nhờ việc đồng bộ nhiều giải pháp kỹ thuật như giảm lượng giống gieo sạ, quản lý nước theo phương pháp ngập khô xen kẽ, giảm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, quản lý rơm rạ sau thu hoạch, kết hợp ứng dụng nhật ký điện tử và thiết bị cảm biến trong sản xuất.
Thực tiễn cho thấy, các mô hình này đã giúp nông dân giảm chi phí đầu vào từ 3,3 đến 5 triệu đồng/ha, đồng thời tăng lợi nhuận từ 3,6 đến 9,3 triệu đồng/ha so với phương thức canh tác truyền thống. Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, việc áp dụng quy trình sản xuất giảm phát thải còn góp phần bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao chất lượng nông sản.

Theo đại diện Trung tâm Khuyến nông tỉnh An Giang, lực lượng khuyến nông hiện nay không chỉ làm nhiệm vụ chuyển giao kỹ thuật mà còn đóng vai trò cầu nối giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ quan quản lý trong việc tổ chức sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu và thúc đẩy chuyển đổi số trong nông nghiệp.
Qua các báo cáo tham luận và phiên thảo luận mở, nhiều vấn đề quan trọng đã được các đại biểu tập trung trao đổi. Trong đó, nổi bật là việc hoàn thiện hạ tầng và cơ sở dữ liệu số phục vụ quản lý vùng nguyên liệu; nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ số cho lực lượng khuyến nông cộng đồng, hợp tác xã và nông dân; tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân nhằm xây dựng chuỗi giá trị lúa gạo chất lượng cao.
Bên cạnh đó, các đại biểu cũng kiến nghị tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về kiểm kê phát thải khí nhà kính, hệ thống MRV và các điều kiện cần thiết để ngành lúa gạo từng bước tham gia thị trường carbon. Đây được xem là hướng đi mới, tạo thêm nguồn thu cho người sản xuất trong tương lai nếu các mô hình canh tác giảm phát thải được xác nhận và giao dịch tín chỉ carbon.
Kết thúc chương trình, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia khẳng định, những ý kiến, đề xuất và kinh nghiệm thực tiễn được chia sẻ tại tọa đàm sẽ được tổng hợp để phục vụ công tác tham mưu cho Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện hiệu quả Đề án.
Tọa đàm không chỉ là diễn đàn trao đổi chuyên môn mà còn thể hiện quyết tâm của ngành nông nghiệp trong việc xây dựng nền sản xuất lúa gạo hiện đại, xanh và phát thải thấp. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh đến khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, chuyển đổi số và quản lý phát thải khí nhà kính đang trở thành yêu cầu tất yếu để nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam, bảo đảm sinh kế cho người nông dân và hướng tới mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững trong những năm tới.
Bài và ảnh: Lê Giang



































































