An Giang sau sáp nhập là tỉnh vừa có biển vừa đồng bằng và có núi với diện tích đất canh tác và mặt nước nuôi trồng tăng lên đáng kể. Trong đó hoạt động nuôi trồng thủy sản với đa dạng vùng sinh thái nuôi như nuôi nước ngọt, lợ, mặn và nuôi biển. Nuôi biển đang được ngành chú trọng phát triển mạnh cả về diện tích và sản lượng theo hướng nâng cao chất lượng và bền vững.

Lồng bè nuôi biển tập trung phát triển các đối tượng có giá trị kinh tế cao như cá bớp, mú, chim vây vàng… Tuy nhiên, hình thức nuôi biển hiện nay còn nhiều bất cập do công nghệ còn lạc hậu trong đó chất liệu làm lồng nuôi còn phụ thuộc quá nhiều vào nguồn tài nguyên lâm sản mà tuổi thọ lồng lại không cao, chu kỳ, chi phí bảo dưỡng sửa chữa ngắn tăng giá thành. Lồng nuôi truyền thống có kết cấu kém chắc chắn, khó neo đậu, khả năng chống chịu sóng nhỏ, mật độ neo đậu dày đặc khiến nguồn nước lưu thông kém cá nuôi thiếu oxy, mầm bệnh phát triển nguy cơ dịch bệnh cao. Trong khi đó lồng nuôi HDPE làm từ nguồn vật liệu tổng hợp chủ động phát triển quy mô lớn, kích thước linh hoạt theo địa hình. Chi phí lồng HDPE bình quân cho mỗi mét vuông mặt nước khoảng 2,5 triệu đồng, tuy nhiên chu kỳ bảo dưỡng dài, chi phí sửa chữa thấp, khấu hao cho mỗi vụ nuôi thấp. Lồng HDPE có khả năng chịu tác động mạnh của thời tiết, dễ vệ sinh, thích hợp ứng dụng các kỹ thuật mới vào hoạt động nuôi như ứng dụng hệ thống giám sát và điều khiển tự động trong kỹ thuật quản lý chăm sóc, cho ăn cũng như thu hoạch, kiểm soát dịch bệnh.
Để trang bị những kiến thức cơ bản cho người nuôi áp dụng trong hoạt động nuôi lồng biển ứng dụng công nghệ HDPE. Tài liệu được tham khảo tổng hợp từ nghiên cứu của các viện trường làm tài liệu giới thiệu đến người nuôi những kỹ thuật cơ bản nhằm định hướng nghề nuôi theo hướng bền vững.
Vị trí nuôi
Lồng nuôi được bố trí tại những nơi theo quy hoạch của địa phương, thuận lợi cho việc quản lý, chăm sóc, thu hoạch…
Nơi đặt lồng ở những vùng nước lặng như eo, vịnh, tránh gió bão, có chất lượng nước đảm bảo cho sinh trưởng và phát triển của đối tượng nuôi.
Dòng chảy dao động trong khoảng 0,2-0,6m/giây, hàm lượng oxy hòa tan 4-8mg/lít, pH từ 7,5-8,5, nhiệt độ 25-32oC, độ mặn từ 27-33‰ , NH3<0,02mg/lít
Đáy lồng được bố trí đảm báo cách đáy biển > 2-3m, nền đáy chọn những vị trí có cát sỏi, tránh những vị trí có đáy bùn.
Kết cấu lồng

Lồng có dạng hình vuông, diện tích mặt nước dao động 9-25m2.
Lồng có dạng hình tròn, diện tích mặt nước dao động 70-300m2
Tùy theo quy mô, điều kiện kinh tế và địa hình nuôi mà chọn diện tích cho phù hợp.
Vật liệu khung lồng nhựa HDPE.
Dây neo chắc chắn được neo bắt chéo theo hình chữ X để đảm bảo cho lồng chỉ lên xuống theo thủy triều và đứng yên tại một vị trí nhất định.
Lưới lồng được làm bằng vật liệu polyethylene không có gút đảm bảo cho cá không bị xây xát.
Kích cỡ cá giống và mắt lưới lồng nuôi
| Kích cỡ cá giống (cm) | Mắt lưới 2a (cm) |
| 1-2 | 0,5 |
| 5-10 | 1,0 |
| 10-15 | 1,5 |
| 15-20 | 2,0 |
| 20-30 | 2,5-3,0 |
| 30-50 | 3,0-5,0 |
| Trên 50 | 6,0 |
Chọn giống
Khỏe mạnh, đều cỡ, bơi quấy theo đàn.
Thân hình thon dài, cân đối, không dị hình, dị tật.
Không có dấu hiệu bệnh lý, không xây xát.
Đã thuần dưỡng và sử dụng tốt thức ăn viên.
Thuần hóa cá thích nghi với nhiệt độ và độ mặn nước nơi nuôi.
Thả giống
Thả cá giống vào lúc sáng sớm hoặc buổi tối.
Không thả giống vào thời điểm chất lượng nước kém hoặc nơi lồng nuôi có sóng, gió mạnh.
Sau 1,5- 2 tháng nuôi tiến hành phân cỡ và san thưa, sau 3-4 tháng tiếp tục phân cỡ và san thưa.
Phân cỡ cá cần tránh gây xây xát cá.
Kích cỡ và mật độ giống thả
Cá mú
Kích cỡ:10-15 cm, tự nhiên hay sản xuất nhân tạo.
Mật độ: 20-25 con/m3.
Cá bóp
Kích cỡ: 20-25 cm, tự nhiên hay sản xuất nhân tạo.
Mật độ: 5-8 con/m3.
Cá chim vây vàng
Kích cỡ: 5-10 cm.
Mật độ: 20-40 con/m3.
Thức ăn cá tạp
Tươi sạch, không được ương, thối và đã qua ướp muối.
Xay, băm nhỏ hay cắt khúc phù hợp với kích cỡ miệng cá.
Cần rửa cá tạp bằng nước biển loại bỏ chất bẩn và tạp chất.
Loại bỏ các ký sinh trên cá tạp bằng cách ngâm trong nước ngọt.
Thức ăn công nghiệp
Dạng viên nổi hay chìm chậm, chất lượng tốt.
Hàm lượng đạm từ 42-45%.
Kích cỡ viên thức ăn tùy theo giai đoạn phát triển của cá.
Cách cho ăn
Cho cá ăn ở tầng mặt khi cá nhao lên bắt mồi.
Cho ăn từ từ tránh để thức ăn chìm xuống đá.
Chăm sóc và quản lý
Cho cá ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng và xế chiều.
Định kỳ bổ sung chất khoáng, men tiêu hóa và vitamin vào thức ăn cho ăn liên
tục 7 ngày, sau đó cách 7 ngày cho ăn tiếp để giúp tăng cường sức khỏe cho cá.
Khi thời tiết thay đổi đột ngột, nhiệt độ nước và dòng chảy thay đổi nhiều,
những ngày mưa bão, cá ít ăn lại, chỉ cho cá ăn 1 lần và giảm lượng thức ăn lại
từ 1/4-1/2 lượng thức ăn ngày thường.
Hoạt động bắt mồi của cá phụ thuộc vào sức khỏe của cá, thời tiết, môi trường,
thức ăn.
Theo dõi tình trạng hoạt động và mức độ bắt mồi của cá để điều chỉnh lượng
thức ăn cho phù hợp với khả năng bắt mồi của cá.
Sau 1 giờ cho cá ăn, cần vớt bỏ thức ăn thừa để tránh gây nhiễm bẩn môi trường
nuôi.
Khi cá bị bệnh, thời tiết quá nóng, lạnh thì giảm lượng thức ăn từ 10-30%.
Định kỳ hàng tháng kiểm tra sinh trưởng cá (chiều dài, khối lượng). Điều chỉnh
lượng thức ăn và phân cỡ cá.
Theo dõi các yếu tố môi trường trong lồng nuôi.
Theo dõi sức khỏe cá, kiểm tra các bệnh ký sinh, vi khuẩn, virus, các bệnh khác
của cá.
Định kỳ kiểm tra khung lồng, dây neo, vệ sinh lưới, di chuyển lồng bè đến nơi an toàn nếu có gió bão xảy ra.
Thu hoạch
Thời điểm thu hoạch phụ thuộc vào kích thước, sức khỏe cá và giá cả thị trường.
Thu tỉa cá đạt kích cỡ thương phẩm.
Kết thúc đợt nuôi 8-12 tháng, cá đạt 1-1,5 kg (cá mú), 5-10 kg (cá bớp), 1-3 kg và 0,5-1 kg (cá chim vây vàng) tiến hành thu hoạch.
Cần cho cá nhịn đói để cá sạch ruột trước khi thu hoạch.
Khi thu hoạch dùng vợt để bắt cá. Thao tác nhanh, nhẹ nhàng.
Thu hoạch xong phải tiến hành làm vệ sinh lại lồng, bè (lưới, khung bè…).
Lưới được phơi khô và bảo quản nơi khô ráo.
Bài và ảnh: Ngô Tuấn Tính



































































