Từ nguồn rơm rạ sau thu hoạch, mô hình quản lý rơm rạ tuần hoàn tại xã Long Kiến, tỉnh An Giang, mở ra hướng tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để trồng nấm rơm, sản xuất phân hữu cơ, góp phần tăng thu nhập cho nông dân và thúc đẩy sản xuất lúa theo hướng xanh, bền vững.
Ngày 20/10, Trung tâm Khuyến nông tỉnh An Giang tổ chức hội thảo tổng kết, đánh giá mô hình “Quản lý rơm rạ tuần hoàn” tại xã Long Kiến. Hoạt động nhằm đánh giá kết quả triển khai, chia sẻ kinh nghiệm thực tế và thúc đẩy nhân rộng giải pháp sử dụng phụ phẩm sau thu hoạch theo hướng kinh tế tuần hoàn.
Mô hình được thực hiện tại hộ bà Nguyễn Thị Nhung, ấp Long Bình, xã Long Kiến, với quy mô 1.500 m², sử dụng 500 cuộn rơm làm nguyên liệu trồng nấm. Đây là một trong những nội dung thuộc chương trình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp, phục vụ Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long tại An Giang.
Điểm đáng chú ý của mô hình là rơm rạ không chỉ được thu gom khỏi đồng ruộng mà còn tiếp tục được khai thác giá trị thông qua sản xuất nấm rơm. Sau khi thu hoạch nấm, phần giá thể còn lại được tận dụng kết hợp với các nguyên liệu khác để ủ phân compost, phục vụ sản xuất nông nghiệp. Cách làm này tạo thành chu trình sử dụng phụ phẩm, hạn chế lãng phí nguồn nguyên liệu sẵn có và góp phần giảm tác động tiêu cực đến môi trường.

Theo báo cáo của Trung tâm Khuyến nông An Giang, mô hình được triển khai theo quy trình quản lý rơm rạ tuần hoàn của Cục Trồng trọt và quy trình kỹ thuật trồng nấm rơm ngoài trời của Trung tâm Khuyến nông. Trong quá trình thực hiện, nông dân được hướng dẫn từ khâu lựa chọn địa điểm, xử lý và ủ rơm, xếp mô, cấy meo giống đến chăm sóc, thu hoạch nấm và tận dụng giá thể làm phân hữu cơ.
Việc hướng dẫn thực hành trực tiếp giúp người tham gia nắm rõ hơn yêu cầu kỹ thuật, nhất là kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm và điều kiện thông thoáng của mô nấm. Đây là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình phát triển của nấm, đồng thời đòi hỏi người trồng phải thường xuyên theo dõi để điều chỉnh phù hợp với điều kiện thời tiết.
Theo kết quả tổng hợp trong báo cáo đánh giá, mô hình đạt năng suất nấm tươi bình quân 9,7% so với trọng lượng nguyên liệu thô, với sản lượng nấm dự kiến 710 kg. Giá thể compost sau trồng nấm được tận dụng để tạo thêm nguồn thu. Tổng thu từ nấm rơm và giá thể compost được tính toán đạt 57,7 triệu đồng; tổng chi phí 38,625 triệu đồng, lợi nhuận dự kiến 19,075 triệu đồng, tương ứng tỷ suất lợi nhuận khoảng 49%.
Các số liệu trên cho thấy giá trị của mô hình không chỉ nằm ở sản phẩm nấm rơm mà còn ở khả năng khai thác tiếp phần phụ phẩm sau sản xuất. Thay vì kết thúc vòng đời sử dụng sau thu hoạch lúa, rơm rạ tiếp tục trở thành nguyên liệu đầu vào cho một hoạt động sản xuất khác. Phần giá thể sau trồng nấm được chuyển hóa thành phân hữu cơ, góp phần khép kín hơn chu trình sử dụng vật liệu trong nông nghiệp.
Tuy nhiên, hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào chi phí nguyên liệu, công lao động, điều kiện thời tiết, kỹ thuật chăm sóc và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Báo cáo cũng ghi nhận thời tiết mưa nhiều trong giai đoạn cấy meo khiến độ ẩm luống rơm tăng, làm chậm sự phát triển của nấm. Đây là kinh nghiệm cần lưu ý khi tổ chức sản xuất, đặc biệt trong việc lựa chọn thời điểm xuống giống, bố trí hệ thống thoát nước và kiểm soát độ ẩm.
Bên cạnh hiệu quả kinh tế, mô hình còn hướng đến nâng cao nhận thức của nông dân về quản lý rơm rạ sau thu hoạch. Trong quá trình triển khai, Trung tâm Khuyến nông An Giang đã tổ chức hội nghị triển khai với 40 đại biểu tham dự và các đợt tập huấn kỹ thuật trồng nấm rơm, ủ phân compost cho 30 lượt nông dân. Nội dung tập huấn kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, đồng thời giới thiệu định hướng liên kết tiêu thụ sản phẩm và phát triển ngành nấm.

Tại hội thảo tổng kết, việc tham quan mô hình và trao đổi kinh nghiệm giữa cán bộ kỹ thuật, chính quyền địa phương, hợp tác xã và nông dân là cơ hội để nhìn nhận những thuận lợi, khó khăn trong quá trình áp dụng. Từ thực tế triển khai, vấn đề đặt ra là cần tiếp tục hỗ trợ nông dân hoàn thiện kỹ thuật, chủ động nguồn nguyên liệu, giảm chi phí lao động và tìm đầu ra ổn định cho nấm rơm cũng như phân hữu cơ.
Theo kiến nghị trong báo cáo, cần có chính sách hỗ trợ tổ hợp tác, hợp tác xã đầu tư thiết bị phục vụ thu gom rơm và ủ phân hữu cơ; đồng thời tổ chức thêm các lớp tập huấn để nông dân có điều kiện tiếp cận, học hỏi và nhân rộng mô hình. Việc tuân thủ quy trình kỹ thuật, lựa chọn nguyên liệu phù hợp và chủ động bố trí mùa vụ cũng là những yếu tố cần được quan tâm.
Trong bối cảnh ngành lúa gạo đang hướng đến nâng cao chất lượng và giảm phát thải, quản lý rơm rạ theo hướng tuần hoàn là một giải pháp thiết thực để nâng giá trị phụ phẩm, tạo thêm sinh kế và giảm lãng phí tài nguyên. Từ mô hình tại Long Kiến, nếu tiếp tục được hoàn thiện về kỹ thuật, tổ chức sản xuất và liên kết thị trường, rơm rạ có thể trở thành nguồn nguyên liệu mang lại giá trị kinh tế, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp xanh, tuần hoàn và bền vững tại An Giang.
Bài và ảnh: Trần Thị Cẩm Tú


































































