Giữa vùng ngập lũ đầu nguồn Đồng bằng sông Cửu Long, 10,5ha sen tại xã An Cư đang phủ xanh những thửa ruộng vốn bỏ trống trong mùa nước nổi. Bốn trong năm điểm trồng đã bước vào thu hoạch, mở thêm sinh kế cho nông dân và cho thấy hướng khai thác vùng ngập lũ theo cách thuận theo tự nhiên.
Những ngày này, các ruộng sen tại xã An Cư bước vào vụ thu hoạch. Trên những cánh đồng ngập nước, màu xanh của lá sen xen những bông hoa và gương sen tạo nên một diện mạo khác cho vùng đất đầu nguồn. Mô hình trồng sen tại An Cư là một trong những hợp phần của Dự án Mekong NbS – Giai đoạn 2, do Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF) – Việt Nam phối hợp với Trung tâm Khuyến nông An Giang triển khai.
Toàn xã hiện có 5 điểm trồng sen với tổng diện tích 10,5ha. Trong đó, 4 điểm đã cho thu hoạch gương sen. Kết quả bước đầu cho thấy cây sen có khả năng thích nghi với điều kiện đất ngập nước theo mùa, qua đó mở thêm một lựa chọn sinh kế trong thời gian ruộng không canh tác lúa.
Sản phẩm từ mô hình gồm gương sen tươi, hạt sen tươi và hạt sen khô. Hiện nông dân chủ yếu bán gương sen cho thương lái, giá dao động từ 13.000 – 20.000 đồng/kg, tùy thời điểm và chất lượng.

Mức giá chưa phải là yếu tố duy nhất quyết định hiệu quả mô hình. Theo hướng canh tác của dự án, cây sen tận dụng điều kiện ngập nước tự nhiên nên chi phí đầu tư ban đầu và vật tư đầu vào được tiết giảm, trong đó phân bón và thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở mức thấp.
Ngoài gương sen, một số hộ còn tận dụng ngó sen và kết hợp khai thác nguồn cá đồng tự nhiên trong ruộng sen. Cách làm này giúp đa dạng hóa sản phẩm trên cùng diện tích, thay vì chỉ trông chờ vào một nguồn thu. Điểm đáng chú ý của mô hình không chỉ nằm ở diện tích 10,5ha sen, mà ở cách tiếp cận sản xuất dựa vào điều kiện tự nhiên của vùng đầu nguồn.
Dự án Mekong NbS – Giai đoạn 2 hướng đến phát triển các Giải pháp Dựa vào Thiên nhiên (Nature-based Solutions – NbS), trong đó có các mô hình sinh kế mùa lũ nhằm vừa tạo thu nhập cho người dân, vừa duy trì các chức năng tự nhiên của vùng ngập nước. Theo định hướng này, thay vì tìm cách ngăn nước lũ để duy trì sản xuất quanh năm, một phần diện tích được để nước lũ đi vào đồng và lựa chọn những mô hình có khả năng thích ứng với điều kiện ngập nước để khai thác.
Đây cũng là điểm khác biệt của mô hình sen tại An Cư. Nước lũ không hoàn toàn được xem là yếu tố cần loại bỏ, mà trở thành một phần của điều kiện sản xuất.
Kết quả nghiên cứu từ giai đoạn trước của dự án ghi nhận lượng phù sa bồi tụ tại những khu vực tiếp nhận lũ có thể đạt 3 – 5 tấn/ha, cao hơn so với một số khu vực canh tác lúa vụ ba. Lớp phù sa mới có thể bổ sung vật chất cho đất, đồng thời việc duy trì kết nối với nguồn nước lũ góp phần bảo tồn các chức năng tự nhiên của vùng ngập.
Từ góc độ sản xuất, cây sen là lựa chọn tương đối phù hợp với điều kiện này nhờ khả năng sinh trưởng trong môi trường ngập nước. Người dân không cần đầu tư hệ thống can thiệp phức tạp để duy trì cây trồng trong suốt mùa lũ.

Mục tiêu của Dự án Mekong NbS – Giai đoạn 2 không dừng ở việc phát triển từng mô hình riêng lẻ. Dự án hướng đến đồng bộ dữ liệu, nghiên cứu và kiểm chứng các lợi ích của những giải pháp dựa vào thiên nhiên; đồng thời tạo cơ sở để nhân rộng các mô hình sinh kế phù hợp tại vùng đầu nguồn Đồng bằng sông Cửu Long.
Trong đó, phục hồi 1.000ha vùng ngập lũ thông qua các mô hình sinh kế mùa lũ dựa vào thiên nhiên là một trong những mục tiêu của dự án. Mô hình trồng sen tại An Cư được triển khai như một cấu phần thí điểm trong định hướng này. Thực tế từ 10,5ha sen ở An Cư cho thấy, để thích ứng với mùa nước nổi, bài toán không nhất thiết là tìm cách loại bỏ lũ khỏi đồng ruộng. Một hướng khác là lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp để khai thác chính những điều kiện mà mùa lũ mang lại.
Từ những gương sen đầu tiên được thu hoạch, câu chuyện về sinh kế mùa nước nổi đang được mở ra theo một hướng khác: không đối đầu với tự nhiên mà tìm cách tổ chức sản xuất phù hợp với quy luật của tự nhiên. Nếu được tiếp tục hoàn thiện về kỹ thuật, tổ chức sản xuất và đầu ra sản phẩm, những ruộng sen mùa lũ không chỉ tạo thêm nguồn thu cho nông dân mà còn có thể trở thành một mắt xích trong cách tiếp cận mới đối với vùng ngập lũ đầu nguồn.
Bài và ảnh: Trương Trần Thuận



































































