Nhu cầu nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu của doanh nghiệp đang tăng nhanh, nhưng quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, liên kết chưa thật sự bền vững và yêu cầu của thị trường quốc tế ngày càng khắt khe. Đây là những vấn đề được đại diện Công ty Cổ phần Rau quả Thực phẩm An Giang (Antesco) chia sẻ tại Hội nghị đánh giá kết quả chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất trồng lúa giai đoạn 2021–2025 và định hướng thực hiện giai đoạn 2026–2030, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp nhằm xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành chế biến nông sản.
Theo đại diện công ty Antesco, sự phát triển của ngành chế biến nông sản trong những năm gần đây đang mở ra nhiều cơ hội cho nông dân và hợp tác xã tham gia chuỗi giá trị. Tuy nhiên, để tận dụng tốt cơ hội này, việc xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, ổn định và đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế là yêu cầu cấp thiết.
Thực tế cho thấy nhu cầu nguyên liệu phục vụ chế biến của doanh nghiệp tăng mạnh qua từng năm. Giai đoạn 2024–2025, sản lượng thu mua nhiều mặt hàng chủ lực đều tăng đáng kể. Trong đó, bắp non tăng từ 2.877 tấn lên 5.826 tấn, đậu nành rau đạt hơn 6.000 tấn, sản lượng xoài tăng từ 24.100 tấn lên gần 42.500 tấn. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn mở rộng thu mua khóm và nhiều loại rau, quả khác để phục vụ chế biến xuất khẩu.

Cùng với nhu cầu nguyên liệu tăng, diện tích vùng liên kết của Antesco cũng mở rộng nhanh, từ 2.183 ha lên 4.133 ha, tăng gần 190% chỉ sau một năm. Theo doanh nghiệp, đây là tín hiệu cho thấy thị trường xuất khẩu tiếp tục có nhu cầu lớn đối với các sản phẩm rau màu và cây ăn trái chế biến của An Giang.
Không dừng lại ở đó, năm 2026 doanh nghiệp dự kiến cần khoảng 82.000 tấn nguyên liệu, tương ứng diện tích vùng trồng khoảng 5.351 ha, tăng gần 30% so với năm trước. Xa hơn, giai đoạn 2026–2027, tổng nhu cầu vùng nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu tươi được xác định lên tới khoảng 8.600 ha.
Theo Antesco, An Giang có nhiều lợi thế để phát triển vùng nguyên liệu nhờ quỹ đất màu mỡ, hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh và sự đồng hành của chính quyền cùng ngành nông nghiệp trong công tác quy hoạch, tổ chức sản xuất. Đây là nền tảng quan trọng để doanh nghiệp mở rộng liên kết với nông dân và hợp tác xã, từng bước hình thành các vùng chuyên canh phục vụ chế biến và xuất khẩu.
Đặc biệt, nếu kiểm soát tốt quy trình sản xuất, nhất là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định, nhiều sản phẩm của An Giang hoàn toàn có khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của những thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Liên minh châu Âu.
Tuy nhiên, quá trình xây dựng vùng nguyên liệu vẫn còn nhiều rào cản. Theo doanh nghiệp, các thị trường nhập khẩu liên tục cập nhật quy định về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và các hoạt chất bị cấm, buộc cả doanh nghiệp lẫn người sản xuất phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình canh tác. Trong khi đó, tình trạng cạnh tranh thu mua ngoài chuỗi liên kết vẫn xảy ra ở một số nơi, làm giảm tính ổn định của vùng nguyên liệu đã được doanh nghiệp đầu tư.

Một khó khăn khác là quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán, gây trở ngại cho việc truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng và tổ chức thu mua. Khi nhu cầu nguyên liệu vượt khả năng cung ứng trong tỉnh, doanh nghiệp phải mở rộng liên kết sang các địa phương khác, kéo theo chi phí tăng và khó bảo đảm tính đồng bộ của sản phẩm.
Từ thực tế trên, Antesco kiến nghị tỉnh tiếp tục quy hoạch các vùng chuyên canh rau màu, cây ăn trái gắn với doanh nghiệp thu mua; hỗ trợ xây dựng vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn GlobalG.A.P, phát triển mã số vùng trồng và đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc. Doanh nghiệp cũng đề xuất tăng cường tập huấn cho nông dân về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn, ghi chép nhật ký sản xuất, áp dụng quy trình canh tác đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, đồng thời khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh thông qua tăng sử dụng phân hữu cơ, giảm phát thải khí nhà kính và kiểm soát chặt chất lượng vật tư nông nghiệp.
Khẳng định sẽ tiếp tục đồng hành cùng nông dân và địa phương, Antesco cho biết sẽ duy trì bao tiêu sản phẩm theo hợp đồng, hỗ trợ giống, chuyển giao kỹ thuật, cải tạo đất và kiểm soát chất lượng nguyên liệu đầu vào. Song song đó, doanh nghiệp đang triển khai lộ trình áp dụng các tiêu chuẩn ESG trong sản xuất, hướng tới mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2035 và đạt phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2040.
Có thể thấy, nhu cầu ngày càng lớn của doanh nghiệp chế biến đang mở ra cơ hội để An Giang tiếp tục mở rộng vùng nguyên liệu theo hướng tập trung, chuyên nghiệp và bền vững. Tuy nhiên, để biến cơ hội thành lợi thế cạnh tranh, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân trong xây dựng chuỗi liên kết ổn định, đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường xuất khẩu.
Bài và ảnh: Nguyễn Hữu An Khương


































































