An Biên phát huy hiệu quả mô hình tôm – lúa kết hợp nuôi cua

Tận dụng lợi thế vùng nước mặn – ngọt luân phiên, người dân xã An Biên, tỉnh An Giang phát triển mô hình tôm – lúa kết hợp nuôi cua, cá nhằm đa dạng nguồn thu trên cùng diện tích. Kết quả sản xuất 9 tháng đầu năm 2026 cho thấy mô hình tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp địa phương, dù người nuôi vẫn đối mặt với áp lực giá bán và chi phí đầu vào.

Theo thống kê 9 tháng đầu năm 2026, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của xã An Biên đạt 7.852 ha, hoàn thành 100% kế hoạch năm. Trong đó, diện tích nuôi tôm – lúa đạt 4.759 ha, toàn bộ diện tích đã thu hoạch. Năng suất tôm bình quân đạt 428,4 kg/ha, sản lượng 2.038,8 tấn, bằng 102% kế hoạch năm.

Bên cạnh tôm, mô hình nuôi cua xen tôm được duy trì trên diện tích 4.759 ha, với sản lượng cua đạt 724,65 tấn. Sản lượng cá nuôi trong diện tích tôm – lúa đạt 1.023,2 tấn. Đối với tôm càng xanh, diện tích thả nuôi đạt 378 ha, sản lượng 159,14 tấn. Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản toàn xã ước đạt 5.255,66 tấn, bằng 97% kế hoạch năm.

Những kết quả này cho thấy người dân An Biên đang khai thác lợi thế của hệ thống canh tác kết hợp, không chỉ dựa vào một đối tượng nuôi. Việc bố trí tôm, cua, cá phù hợp với điều kiện ao, ruộng và nguồn nước giúp đa dạng hóa sản phẩm, phân tán rủi ro và tăng khả năng khai thác hiệu quả diện tích sản xuất.

Hiệu quả mô hình phụ thuộc nhiều vào khả năng tổ chức mùa vụ, lựa chọn con giống, quản lý nguồn nước và kiểm soát chi phí.

Ông Nguyễn Tấn Ngoan, Trưởng ấp Kinh 1B, cho biết địa bàn ấp có 464 ha được quy hoạch sản xuất theo mô hình tôm – lúa, với 428 hộ tham gia. Trong vụ tôm vừa qua, người dân có lãi nhờ kết hợp nuôi nhiều đối tượng thủy sản như tôm càng xanh, tôm thẻ chân trắng, cua và tôm sú.

Thực tế sản xuất cho thấy, hiệu quả mô hình phụ thuộc nhiều vào khả năng tổ chức mùa vụ, lựa chọn con giống, quản lý nguồn nước và kiểm soát chi phí. Việc kết hợp nhiều đối tượng nuôi cần được tính toán phù hợp với điều kiện từng hộ, tránh thả nuôi dày hoặc đầu tư vượt quá khả năng quản lý.

Gia đình ông Huỳnh Công Dương, ở ấp Kinh 1B, có 2 ha sản xuất theo mô hình một vụ tôm, một vụ lúa. Theo ông Dương, vụ tôm năm nay nhìn chung thuận lợi, nhưng giá bán thấp hơn những năm trước. Vì vậy, để nâng cao lợi nhuận, người nuôi cần được hướng dẫn kỹ thuật nhằm giảm chi phí thuốc men, cải thiện năng suất và hạn chế rủi ro trong quá trình sản xuất.

Đối với vụ lúa trên nền đất nuôi tôm, ông Dương cho biết việc cải tạo đất tương đối thuận lợi. Người dân cũng được hướng dẫn lựa chọn giống lúa phù hợp với điều kiện thời tiết và đặc điểm vùng sản xuất.

Cùng địa bàn, ông Hồ Văn Được có 1,5 ha nuôi tôm. Ông cho biết vụ nuôi hiện tại chưa thu hoạch hết nhưng nguồn thu đã gần 200 triệu đồng, trong khi vốn đầu tư ban đầu khoảng 40–50 triệu đồng. So với sản xuất hai vụ lúa trước đây, gia đình ông nhận thấy mô hình tôm – lúa mang lại hiệu quả kinh tế tốt hơn.

Để tiết giảm chi phí, gia đình ông Được chú trọng cải tạo đất, lựa chọn giống lúa phù hợp trên nền đất nuôi tôm và hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Ông cũng mong muốn được hỗ trợ tiếp cận các giống thủy sản mới, có chất lượng để cải thiện hiệu quả sản xuất.

Những chia sẻ từ người nuôi cho thấy lợi thế của mô hình không chỉ nằm ở nguồn thu từ tôm mà còn ở khả năng kết hợp các đối tượng thủy sản với cây lúa theo mùa vụ. Tuy nhiên, doanh thu và lợi nhuận thực tế còn phụ thuộc vào sản lượng thu hoạch, giá bán, chi phí thức ăn, con giống và các khoản đầu tư trong từng vụ.

Theo ông Phân Văn Út, ở ấp Cái Nước, mô hình tôm – lúa giúp nhiều hộ nông dân cải thiện kinh tế và thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu. Khi độ mặn phù hợp, người dân tận dụng điều kiện để nuôi tôm, cua; đến mùa nước ngọt thì chuyển sang trồng lúa chất lượng cao.

Mô hình kết hợp một vụ tôm một vụ lúa đã trở thành loại hình nuôi trồng kết hợp có thế mạnh của tỉnh.

Ông Út nhận định, với diện tích 1 ha, nếu chuyển từ sản xuất hai vụ lúa kém hiệu quả sang mô hình tôm – lúa, tổng lợi nhuận từ tôm, cua và lúa có thể đạt khoảng 100–150 triệu đồng. Để mô hình phát huy hiệu quả lâu dài, địa phương cần tiếp tục đầu tư hệ thống thủy lợi, kiểm soát chất lượng con giống và đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quy trình nuôi an toàn sinh học.

Bên cạnh lợi thế tự nhiên, sản xuất tôm – lúa kết hợp nuôi cua vẫn chịu tác động từ biến động thời tiết, chất lượng nguồn nước, giá bán và chi phí đầu vào. Do đó, người nuôi cần thường xuyên theo dõi môi trường ao, ruộng; chủ động điều tiết cấp, thoát nước theo điều kiện thực tế; lựa chọn con giống có nguồn gốc rõ ràng và thực hiện đúng hướng dẫn kỹ thuật. Việc sử dụng thuốc, hóa chất phải bảo đảm đúng quy định, hạn chế ảnh hưởng đến môi trường và các đối tượng nuôi khác.

Về lâu dài, bên cạnh duy trì diện tích sản xuất, An Biên cần chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường liên kết giữa các hộ nuôi và kết nối tiêu thụ. Sự đồng hành của ngành chuyên môn trong chuyển giao kỹ thuật, cùng việc đầu tư hạ tầng thủy lợi và tổ chức sản xuất phù hợp với điều kiện nước mặn – ngọt, sẽ là những yếu tố quan trọng giúp mô hình tôm – lúa kết hợp nuôi cua phát huy hiệu quả ổn định.

Từ thực tế sản xuất tại địa phương, hướng đi phù hợp không chỉ là tăng sản lượng mà còn phải kiểm soát tốt chi phí, bảo vệ môi trường và nâng cao giá trị trên mỗi đơn vị diện tích. Đây là cơ sở để người dân An Biên từng bước phát triển sinh kế bền vững từ mô hình tôm – lúa kết hợp nuôi thủy sản.

Bài và ảnh: Nguyễn Văn Tài