Sáng ngày 19/11/2025 tại Cần Thơ đã tổ chức Hội thảo “Chuỗi giá trị rơm rạ: Chính sách và Cơ hội đầu tư” đã công bố nghiên cứu toàn diện đầu tiên về chuỗi giá trị rơm rạ tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đồng thời đề xuất lộ trình chính sách và cơ hội đầu tư cụ thể nhằm hỗ trợ Đề án Một triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp.
Sự kiện do Viện Nghiên cứu Lúa Gạo Quốc tế (IRRI), Cục Kinh tế Hợp tác và Phát triển Nông thôn và Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) đồng tổ chức, quy tụ hơn 100 đại biểu đại diện cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, tổ chức tài chính, hợp tác xã và tổ chức quốc tế.
Việt Nam sản xuất khoảng 44 triệu tấn gạo mỗi năm cùng với lượng rơm rạ tương đương. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, trên 50% lượng rơm này vẫn bị đốt tại ruộng, gây ô nhiễm không khí, phát thải khí nhà kính và thất thoát giá trị kinh tế.

Phát biểu khai mạc, ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế Hợp tác và Phát triển Nông thôn nhấn mạnh: “Nếu chúng ta không giải quyết được vấn đề rơm rạ, chúng ta sẽ không thể đạt được mục tiêu phát thải thấp trong Đề án Một triệu hecta. Phát triển chuỗi giá trị rơm rạ là vấn đề kinh tế – xã hội có tính hệ thống”.
Robert Caudwell, Trưởng đại diện IRRI Việt Nam cho biết: “Đây là nghịch lý lớn: những gì đang bị xem là phế phẩm hoàn toàn có thể trở thành tài nguyên có giá trị nếu có chính sách và đầu tư phù hợp.”
Nghiên cứu do TS. Nguyễn Hồng Tín trình bày dựa trên khảo sát tại 14 xã thuộc ba tỉnh Cần Thơ, An Giang và Vĩnh Long, xác định thương lái đóng vai trò “tác nhân dẫn dắt” với biên lợi nhuận cao nhất trong chuỗi. Tuy nhiên, chuỗi giá trị đang hoạt động thiếu khung chính sách rõ ràng và hỗ trợ thể chế.
Nghiên cứu cũng chỉ ra bốn nhóm khoảng trống chính: Thứ nhất, rơm rạ vẫn bị xem là “phế phụ phẩm” chứ chưa được công nhận là tài nguyên sinh khối, thiếu tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia và hạ tầng logistics chuyên dụng. Thứ hai, không có sàn giao dịch chính thức, giao dịch theo kiểu “alo – thỏa thuận”, thiếu cơ chế hóa đơn/thuế và tín dụng ưu đãi. Thứ ba, chính sách giảm đốt rơm thiếu hỗ trợ tài chính cụ thể, chưa tích hợp vào cơ chế carbon với quy trình MRV rõ ràng. Thứ tư, chưa có chuẩn an toàn lao động, thiếu thống kê chính thức và bộ chỉ số theo dõi cấp tỉnh.
Bà Huỳnh Kim Định, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, cho biết: “Nông dân cần thông tin thị trường và công nghệ phù hợp, doanh nghiệp cần nguồn nguyên liệu ổn định. Khuyến nông là cầu nối quan trọng để biến rơm rạ từ gánh nặng thành cơ hội sinh lời cho cả hai bên”.
Hội thảo cũng chứng kiến sự tham gia tích cực của các chuyên gia từ Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), HTX Nhân Lợi, và Công ty Cổ phần Phát triển Điện lực Việt Nam, cùng đóng góp góc nhìn về chính sách, tài chính, công nghệ và thực tiễn triển khai. Các chuyên gia IRRI cũng giới thiệu chiến lược quản lý rơm rạ dựa trên dữ liệu và bài học kinh nghiệm từ Campuchia.

Kết quả từ Dự án RiceEco cho thấy các mô hình thu gom rơm giúp giảm đến 3 tấn CO2 tương đương mỗi hecta so với vùi rơm trong ruộng ngập nước. Bã rơm sau trồng nấm, rơm chất lượng thấp, rơm ướt có thể sử dụng sản xuất phân bón hữu cơ ứng dụng cơ giới hóa kết hợp công nghệ sinh học. Một minh chứng ở mô hình tuần hoàn rơm rạ ở Cần Thơ, sử dụng phân hữu cơ từ rơm tăng năng suất lúa 10-15%.
Dựa trên kết quả nghiên cứu và đối thoại đa bên, hội thảo đề xuất lộ trình hành động: xác lập địa vị pháp lý cho rơm là tài nguyên sinh khối; ban hành Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN)/Quy chuẩn Việt Nam (QCVN); ưu đãi tín dụng; phát triển logistics sinh khối; tích hợp cơ chế carbon với hướng dẫn MRV; chuyển đổi số; và nghiên cứu phát triển công nghệ.
Với sự tham gia của các bên liên quan, hội thảo đã tạo nền tảng đối thoại và cam kết hành động để phát triển chuỗi giá trị rơm rạ bền vững, góp phần vào thành công của Đề án Một triệu hecta và phát triển nông nghiệp xanh, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long./.
Bài và ảnh: Phan Phi Hùng



































































