Để nâng cao hiệu quả nuôi cua biển trong ao đất, người nuôi cần áp dụng các giải pháp kỹ thuật cốt lõi như: Ao phải được cải tạo đúng qui trình; lựa chọn giống nhân tạo đảm bảo chất lượng và kích cỡ đồng đều; chế độ cho ăn hợp lý và quản lý tốt môi trường ao nuôi. Các biện pháp này giúp tăng tỷ lệ sống, cua nhanh lớn và giảm thiểu rủi ro bệnh tật. Vì vậy, người nuôi cua cần lưu ý một số vấn đề sau:
1. Xây dựng ao nuôi:
Ao nuôi có diện tích 1.000 – 5.000 m2, sâu 1-1,5m, gần nguồn nước mặn,lợ; chất đáy bùn pha cát, ít nhiễm phèn, không có nhiều bùn nhão, có nguồn nước sạch không bị ô nhiễm do sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và nước thải sinh hoạt. Ao cần được xây dựng ở vùng dễ thay nước nhờ vào thủy triểu để giảm chi phí; Bờ ao cần được đầm nén kỹ tránh rò rỉ và sạt lở; Chân bờ rộng từ 3-4m, chiều cao từ 1,5-2m. Trên bờ nên làm lưới chắn quanh bờ không cho cua vượt bờ ra ngoài, có thể dùng lưới cước loại thưa bao quanh, đăng tre, ….lưới chắn phải nghiêng về phía trong ao một góc 60 độ, cao từ 0,8 – 1m.

2. Cải tạo ao nuôi
– Trước khi cấp nước phải đảm bảo tốt công tác vệ sinh khử trùng và diệt tạp, không để trong ao ương, nuôi có cá tạp và giáp xác,…
– Cần bơm cạn nước, sên vét bùn đáy; bón vôi CaO (vôi nung) với liều lượng khoảng 7-10 kg/100m2 đáy ao; kết hợp phơi đáy ao ương khoảng 7-10 ngày (tùy điều kiện) đến nứt chân chim thì tiến hành lấy nước vào ao nuôi.
– Chọn thời điểm nước tốt, ít chất lơ lửng để bơm cấp vào ao chứa để lắng khoảng 2-3 ngày rồi bơm cấp vào ao qua túi lọc bằng vải mịn, mức nước khoảng từ 0,8-1m tùy theo điều kiện ao nuôi.
– Sử dụng một số hóa chất như: Iodine (2-3 ml/m3 nước) hoặc dùng thuốc tím (KMnO4) với lượng 2-3 gram/m3 nước để khử trùng nước (diệt mầm bệnh).
– Khoảng 2-3 ngày sau kiểm tra các yếu tố môi trường rồi tiến hành gây màu nước trước khi thả giống.
3. Chọn giống: Chọn con giống được sản xuất nhân tạo, cua có kích thước 0,5-0,7cm/con, mật độ thả 0,5-1 con/m2. Nên chọn cua giống được sản xuất ở những trại có uy tín có kích cỡ đồng đều, màu sắc tươi sáng, không nhiễm bệnh, các phụ bộ đầy đủ.

4. Thả giống:
– Thả cua giống trực tiếp vào ao nuôi sau khi vừa cải tạo, xử lý và gây màu nước xong. Nên thả lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh thả giống lúc đang có mưa bằng cách đặt khay chứa cua giống vào ao nuôi và dùng nước từ ao nuôi tưới vào khay chứa cua giống để cua thích nghi dần với điều kiện môi trường nước ao nuôi rồi nghiêng khay để cua thoát ra ngoài.
5. Cho ăn: Cua nuôi trong ao phải cung cấp thức ăn hàng ngày, lượng thức ăn tự nhiên trong ao không có nhiều. Thức ăn chủ yếu là thức ăn tươi sống: cá tạp, còng, ba khía, đầu cá … Lượng thức ăn hàng ngày khoảng 4 – 6% trọng lượng cua, cua thường hoạt động bắt mồi vào buổi tối. Mỗi ngày cho cua ăn một lần vào thời gian từ 17 – 18h.
6. Quản lý và chăm sóc: Việc đảm bảo môi trường nước trong sạch rất quan trọng đối với cua, nhất là nuôi mật độ dày cho ăn thức ăn tươi sống. Khi thay nước nên lấy nước ở tầng dưới hoặc tầng giữa tránh lấy nước ở tầng mặt thường hay bị ô nhiễm. Nước mới trong sạch sẽ kích thích cua hoạt động, ăn nhiều và lột xác tốt.
Độ mặn nước tốt nhất 15 – 25‰, độ mặn quá cao hay quá thấp hoặc thay đổi đột ngột đều không tốt cho cua. Trước khi trời mưa nên rải vôi CaCO3 hoặc Dolomite trong ao cả mé bờ ao liều lượng 5g/m3.
Thường xuyên kiểm tra bờ ao, cống, lưới chắn tránh cua thất thoát ra ngoài.
Trong thời gian nuôi, khoảng 2 tuần một lần bắt cua cân để kiểm tra sinh trưởng của cua, xem xét tình trạng của cua: cua nhanh nhẹn, không bị ký sinh ngoài vỏ, xem trong xoang mang có bị ký sinh hay không. Nếu có hiện tượng bị nhiễm bệnh thì phải tìm nguyên nhân và biện pháp xử lý.

7. Thu hoạch:
Sau 4 tháng nuôi dùng rập để bắt tỉa những cua lớn đạt kích cỡ thương phẩm (250gr/con) chắc thịt hoặc đã đầy gạch (cua cái) thì thu hoạch để bán. Những con không đạt tiêu chuẩn thì giữ lại nuôi tiếp.

Những con cua chưa đạt về kích thước, trọng lượng, cua óp hoặc chưa đầy gạch nếu còn khoẻ mạnh thì có thể đem nuôi ở các ao nhỏ, nuôi vỗ tích cực sau một thời gian đạt tiêu chuẩn thu hoạch bán sẽ được giá hơn.
Bài và ảnh: Nguyễn Thị Thúy Nga


































































