Hằng năm, cá linh ngoài tự nhiên chỉ xuất hiện một lần vào mùa nước lên, từ tháng 7 đến tháng 11. Cá linh non được xem như là món ăn đặc sản ưa thích của dân miền Tây, do cá có chất lượng thịt thơm ngon, xương mềm, có thể chế biến nhiều món ăn đặc sắc như canh chua, lẩu mắm, cá linh kho lạc, cá linh chiên bột kèm với các loại rau đồng như bông súng, bông điên điển, rau muống, rau nhúc… Vì vậy, cứ đến mùa nước lên, người dân khai khác nguồn cá này để tăng thu nhập. Đầu mùa giá cá bán khá cao từ 200.000-300.000 đồng/kg, do đó làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản ngoài tự nhiên.Nhằm hạn chế việc khai thác quá mức và góp phần bảo vệ nguồn lợi thiên nhiên, việc khuyến cáo người dân ương cá linh non trái vụ là rất cần thiết. Thời gian ương giống cá linh non trái vụ thường bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm và quy trình ương giống cá linh non trái vụ như sau:
1. Chọn ao ương:
Chọn ao thông thoáng có diện tích từ 1.000 -3.000 m2, độ sâu ao: 1,2-2,0 mét. Ao gần nguồn nước tốt (xa khu dân cư, khu công nghiệp hóa chất, phân bón…), bờ ao không bị rò rỉ mất nước. Bờ ao cao hơn mực nước ao từ 0,5 mét.
2. Cải tạo ao ương:
Trước khi thả cá, ao ương cần phải cải tạo thật kỹ theo cá bước sau:
- Bơm hết nước ao.
- Bắt hết cá còn sót lại và các sinh vật khác trong ao.
- Vét bớt bùn đáy, chỉ để lại lớp bùn non dưới đáy ao 10-15 cm.
- Sửa lại bờ ao, cống cấp thoát nước.
- Dọn sách cỏ và lấp hết hang (do cua, ếch, lươn hoặc rắn tạo ra) quanh bờ ao.
- Rải vôi xung quanh bờ và dưới đáy ao, lượng vôi 25-20 kg/100 m2.
- Phơi đáy ao: 2-3 ngày (lớp bùn đáy nứt chân chim).
- Cấp nước vào ao: Nước cấp vào ao phải lọc qua vải lưới mùng (2 lớp) có kích thước mắt lưới 1mm. Mức nước cần lấy vào ao: 0,5-0,8 m.
- Bón lót để tạo thức ăn (sinh vật phù du) ban đầu cho cá: tùy theo điều kiện cụ thể mà có thể dùng một trong hai biện pháp sau:
(i): Bột đậu nành + bột cá: 7-10 kg/100 m2.
(ii): Dùng lá một số loại thực vật (đậu phộng, điên điển…) bó thành thừng bó để bón lớt với lượng 30-40 kg/100 mét.
Sau 3-4 ngày bón lót thì lấy nước đầy ao. Trước khi thả cá nên kiểm tra lại nước ao thông qua màu nước ao: có hai màu cơ bản phản ảnh ao đủ tiêu chuẩn kỹ thuật thả cá: Màu xanh lá chuối non và màu nước nâu nhạt (xanh vàng nhạt).
3. Thả cá bột:
– Ngày tuổi: Cá bột sau khi nở 48 – 60 giờ.
- Thời gian thả: thả cá vào sáng sớm (6-8 giờ sáng) hoặc 17-18 giờ chiều. Không nên thả cá vào buổi trưa, những ngày mưa kéo dài cũng không nên thả cá.
- Trước khi thả cá ra ao nên ngâm bao chứa cá trong ao từ 15-30 phút để nhiệt độ nước trong bao cá và nước ao cân bằng.
- Phương pháp thả cá: dìm miệng bao xuống sâu 20 cm sau đó mở miệng bao để cá tự bơi ra và kéo từ từ bao lên khỏi mặt nước.
- Vị trí thả cá: nên thả cá cách bờ ít nhất 2 mét hoặc thả cá ở giữa ao.
- Mật độ thả: tùy diện tích ao mà chọn mật độ thả thích hợp. Nếu ao nhỏ (S≤1000m2, độ sâu mực nước từ 0,8-1,2 mét) thả với mật độ 600 con/m2, nếu diện tích ao lớn hơn 1.000m2, độ sâu mực nước từ 1,5-2,0 mét thì thả mật độ 800 con/m2
Có thể cho cá ăn theo bảng dưới đây:
| Ngày tuổi | Thức ăn công nghiệp (nổi) mm | Hàm lượng đạm (%) | Lượng cho ăn (gram)/100.000 cá bột |
| 15 ngày đầu | 0,1-0,2 | 30-35 | 200 |
| 16-30 ngày | 0,2-0,5 | 20-25 | 300 |
| Sau 30 ngày | 0,5-1 | 20 | 350-400 |
– Các yếu tố môi trường : T°C: 28-30°C, – pH: 7-8, Oxy hòa tan: 4-5 ppm, độ trong 20 – 25 cm.
– Sau khi cá lớn (từ 3g trở lên sau khoảng 45 – 60 ngày tuổi) cần định kỳ thay nước mới: 7-10 ngày/lần. Mỗi lần kéo dài 2-3 ngày. Lượng nước ao thay mới: 25-30%. Có thể thay nước theo bảng hướng dẫn sau đây:
| Thời gian nuôi | Tần suất thay nước (lần/tháng) | Lượng nước thay/lần |
| Tháng thứ nhất | Thêm nước | |
| Tháng thứ hai | 2-3 | 1/3 |
– Thường xuyên quan sát hoạt động của cá vào sáng sớm (trước khi có nắng) để kịp thời xử lý. Sau khoảng 15 ngày thả, nếu quan sát thấy:
+ Cá bơi thành đàn, tập trung giữa ao và có phản ứng nhanh khi có tiếng động, cá có màu xanh đen ở phần lưng điều đó chứng tỏ ao có đủ thức ăn, nước ao có đủ dưỡng khí.
+ Cá bơi ven bờ, nước ao đục chứng tỏ ao thiếu thức ăn cần tăng lượng thức ăn.
+ Cá nổi đầu vào sáng sớm, nước ao có màu xanh đậm, trên mặt ao có váng tảo chết nổi chứng tỏ nước ao giàu dinh dưỡng. Cần thay nước mới.
+ Nếu phát hiện thấy cá chết bất thường cần tham khảo ý kiến các nhà chuyên môn để có biện pháp xử lý kịp thời.
– Định kỳ 15 ngày kiểm tra cá 1 lần để điều chỉnh lượng thức ăn.
5. Thu hoạch:
Có kế hoạch luyện cá để tăng cường sức khỏe cho cá, giảm hao hụt khi thu hoạch hoặc vận chuyển đi xa. Có thể luyện cá theo các bước sau:
+ Bước 1: Dùng lưới mắt nhỏ (1-2mm), sợi lưới mềm kéo 2-3 lần/ngày.
Nên kéo lưới luyện cá vào ngày trời mát hoặc buổi chiều sau khi hết nắng,
làm như vậy 2-3 ngày.
+ Bước 2: Kéo cá dồn vào một góc ao vào lúc trời mát, cắm lưới và giữ cá lại trong lưới 1-2 giờ, phun mưa cho cá trong thời gian giữ cá trong lưới, sau đó thả cá ra. Làm như vậy 2-3 ngày.
+ Bước 3: Kéo cá và giữ cá trong lưới mùng hoặc các bể giữ cá. Mật độ giữ cá khoảng 10.000 – 15.000con/m2. Phun mưa liên tục trong thời gian giữ cá.
+ Công việc luyện cá phải hoàn tất trước khi thu hoạch, vận chuyển cá đi xa trước 20-24 giờ.
Sau 50-60 ngày ương cá giống thì tiến hành thu hoạch, có thể chuyển ao để nuôi thương phẩm tiếp hoặc bán cá linh non với các thông số kỹ thuật đạt được như sau:
| TT | Tên chỉ tiêu | ĐVT | Chỉ tiêu cần đạt được | Ghi chú |
| 1 | Qui mô | m2 | 1.000-3.000 | |
| 2 | Mật độ nuôi | con/m2 | 500-750 | Đề tài cấp tỉnh: Thực nghiệm sản xuất giống cá linh ống (Cirrhinus jiulleni) |
| 3 | Cá bột | Ngày tuổi | 2 | |
| 4 | Tỷ lệ sống | ≥ % | 30 | |
| 5 | Trọng lượng khi thu hoạch | ≥ g/con | 1 | |
| 6 | Hệ số thức ăn (FCR) | ≤ | 1 | |
| 7 | Sản lượng | ≥ Kg | 675 | |
| 8 | Năng suất | ≥kg/m2 | 0,225 | |
| 9 | Thời gian thực hiện | tháng | 3 | Thời gian nuôi ≤ 2 tháng |

Bài và ảnh: Ngô Thị Hạnh
Phòng Khuyến ngư



































































