Mỗi mùa nước nổi, hàng ngàn hecta đất ở An Giang từng được ngăn lũ để bảo vệ sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt, dòng chảy thay đổi và đất đai suy thoái, cách tiếp cận “chống lũ” đang dần bộc lộ những giới hạn. Dự án “Khôi phục các chu trình tự nhiên của Đồng bằng sông Cửu Long thông qua các giải pháp dựa vào thiên nhiên” (Dự án Mekong NbS) giai đoạn 2023 – 2025 được triển khai thí điểm tại Khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Trà Sư và vùng đệm xung quanh đang dần chứng minh hiệu quả trong việc khôi phục đất ngập nước và các quá trình tự nhiên của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Phục hồi đa dạng sinh học, chiến lược phát triển ngành thủy sản
Không còn là khái niệm xa vời trong các hội thảo khoa học, Dự án tại Trà Sư đã và đang đi vào thực tiễn, gắn với sinh kế người dân, bảo tồn đa dạng sinh học và thích ứng biến đổi khí hậu. Với hơn 160 ha rừng tràm với trên 109.000 cây bản địa đã được phục hồi tại vùng lõi. Những con số ấy không chỉ nằm trên báo cáo, mà đã hiện hữu ngoài thực địa: rừng tràm non dần khép tán, chim nước quay trở lại và cánh rừng trở thành “tấm đệm tự nhiên” giảm áp lực ngập úng, hạn chế rủi ro thiên tai cho cộng đồng.

Ông Trần Thanh Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang nhấn mạnh, các mô hình sinh kế mùa lũ mà dự án triển khai ở An Giang rất phù hợp với chiến lược phát triển ngành thủy sản giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2045 của tỉnh. Ngành nông nghiệp và môi trường sẽ tiếp tục khuyến khích các địa phương có tiềm năng khai thác thủy sản mùa lũ mở rộng diện tích, góp phần phát triển nông nghiệp thuận thiên theo tinh thần Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL. Giải pháp dựa vào thiên nhiên không chỉ là bảo vệ rừng, mà là cách tiếp cận tổng hợp, hài hòa giữa con người và hệ sinh thái.

Dự án cũng tiến hành khảo sát toàn diện các nhóm cá, chim, lưỡng cư, bò sát và thực vật, xây dựng nền tảng dữ liệu khoa học phục vụ quản lý bảo tồn. Đáng chú ý, hơn 900 lượt cán bộ, người dân được tập huấn, năng lực quản lý rừng và cộng đồng vùng đệm được tăng cường. Công tác tuần tra bảo vệ rừng được số hóa và tích hợp vào hệ thống SMART, giúp nâng cao hiệu quả giám sát và bảo vệ đa dạng sinh học. Thêm vào đó, một chiến lược quản lý nước mới đã được xây dựng theo hướng mô phỏng chế độ thủy văn tự nhiên của sông Mekong với nhịp 6 tháng ngập nước và 6 tháng khô. Ba trạm quan trắc tự động được lắp đặt để hỗ trợ điều chỉnh mực nước, đặc biệt trong mùa khô thông qua hệ thống cống điều tiết. Đây là những can thiệp quan trọng giúp tăng khả năng phục hồi của hệ sinh thái rừng tràm, cải thiện chức năng trữ nước và tạo sinh cảnh cho các loài bản địa.
Sinh kế dựa vào lũ thu nhập từ 50–100 triệu đồng
Song song với bảo tồn, dự án thử nghiệm các mô hình sinh kế dựa vào lũ: duy trì ngập theo mùa nhằm tăng độ phì nhiêu đất và triển khai hệ thống canh tác kết hợp lúa – cá – sen – du lịch sinh thái trên diện tích trên 235ha. Kết quả cho thấy lượng phù sa bồi tụ đạt 3–5 tấn/ha, cao gấp nhiều lần so với canh tác lúa vụ ba, đồng thời mang lại thu nhập từ 50–100 triệu đồng cho các tổ nhóm nông dân tham gia mô hình. Nguồn quỹ xoay vòng hỗ trợ tín dụng nhỏ của dự án cũng đã giúp hơn 100 phụ nữ mở rộng sản xuất, phát triển sinh kế mùa lũ.

Dự án Mekong-NbS giai đoạn 1 (2023–2025) và tham vấn xây dựng hoạt động giai đoạn 2 (2026–2029) lan tỏa thông điệp xuyên suốt được khẳng định: đã đến lúc chuyển từ “chống lũ” sang “đón lũ”, từ kiểm soát cứng sang hài hòa với tự nhiên.
Trước đây mùa nước nổi người dân ở vùng đệm rừng Tràm Trà sư An Giang đang đối mặt với những thay đổi thất thường của thiên nhiên. Nhưng dự án đã thay đổi dần điều tiết lại chế độ thủy văn gần với tự nhiên, các tuyến kênh nội bộ được nạo vét hợp lý cho phép nước lũ vào – ra theo mùa. Chú Phạm Văn Tươi – Tổ hợp tác Mười Tươi thực hiện mô hình sen – cá cho biết: mấy năm nay giông bão thất thường, năng suất lúa giảm, cá thiên nhiên không còn nhiều như trước. Thời xưa nguồn nước từ MeKong chảy về rất sớm vào mùng 5 tháng 5 (âm lịch) nhưng mười mấy năm trở lại đây thì tới rằm tháng 7 âm lịch nước mới quay về đồng, mất tiêu 2 tháng. Do đó, thời gian lũ ngắn cá không lớn kịp, nên mùa nước thì không làm gì cả. Từ khi tham gia dự án thử nghiệm mô hình sinh kế dựa vào thiên nhiên tôi vận động được 6 anh, em tham gia ương 22.000 con cá lóc trong ao, khi cá lớn hơn 100 gram mới thả ra mô hình quây lưới, cộng thêm cá thiên nhiên trên thượng nguồn vào và tôi bao lưới hết 50 hecta diện tích đất, nên đã có thu nhập cao từ nguồn cá thiên nhiên, cá thả nuôi tự nhiên và các nguồn thủy sản khác.

Từ những cánh rừng tràm ngập nước của Trà Sư, câu chuyện về giải pháp dựa vào thiên nhiên đang mở ra hướng đi bền vững cho An Giang cũng như Đồng bằng sông Cửu Long. Khi con người biết lắng nghe và tôn trọng quy luật tự nhiên, thiên nhiên sẽ đáp lại bằng sự hồi sinh, trù phú và an toàn hơn trước những biến động khó lường của khí hậu.
Bài và ảnh: Trang Nghiêm


































































