Từ cánh đồng truyền thống đến cánh đồng lớn ứng phó với biến đổi khí hậu ở An Giang

Sau gần 4 năm triển khai, Dự án “Cánh đồng lớn đáp ứng vùng nguyên liệu và ứng phó biến đổi khí hậu” giai đoạn 2022–2025 đã khẳng định tính đúng đắn, hiệu quả và bền vững trong tổ chức sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị.

 Hình thành vùng nguyên liệu tập trung, thích ứng biến đổi khí hậu.

Ngày 24/12, Trung tâm Khuyến nông An Giang tổ chức hội thảo tổng kết Dự án “Cánh đồng lớn đáp ứng vùng nguyên liệu và ứng phó biến đổi khí hậu” giai đoạn 2022–2025. Hội thảo là dịp nhìn lại chặng đường gần 4 năm triển khai dự án, đánh giá những kết quả đạt được, những khó khăn, hạn chế, đồng thời đề xuất định hướng và giải pháp nhân rộng mô hình cánh đồng lớn trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp.

Tỉnh An Giang có lợi thế lớn về điều kiện tự nhiên, đất đai, với diện tích đất trồng lúa lớn nhất của cả nước trên 624.000 ha, diện tích gieo trồng năm 2024 đạt 1,344 triệu ha, sản lượng khoảng 8,78 triệu tấn. Hằng năm đóng góp trên 50% tổng sản lượng lúa quốc gia, đảm bảo an ninh lương thực trong nước và chiếm trên 95% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.

Theo báo cáo tổng kết tại hội thảo, Dự án được triển khai từ năm 2022 với mục tiêu xây dựng các vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn; áp dụng đồng bộ tiến bộ khoa học kỹ thuật; tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn kết chặt chẽ giữa nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp – nhà khoa học; đồng thời nâng cao khả năng bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí.

Bà Huỳnh Đào Nguyên, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông phát biểu tại hội thảo

Bà Huỳnh Đào Nguyên, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông An Giang, nhận định: Sau gần 4 năm dự án đã hỗ trợ hình thành nhiều mô hình cánh đồng lớn tại địa phương, từng bước thay đổi phương thức sản xuất từ nhỏ lẻ, manh mún sang sản xuất tập trung, có kế hoạch và định hướng thị trường. Các biện pháp canh tác thích ứng như sử dụng giống phù hợp điều kiện khí hậu, quản lý nước tưới tiết kiệm, giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hợp lý đã được áp dụng ngày càng rộng rãi. Ngay từ khi triển khai dự án, mục tiêu đã được xác định rõ giúp giảm chi phí sản xuất từ 20–30% và tăng hiệu quả kinh tế từ 30–50% cho người trồng lúa. Cùng với đó là liên kết doanh nghiệp tiêu thụ, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ đầu vào cho Hợp tác xã và nông dân.

 Nông dân thay đổi tư duy sản xuất

Một trong những điểm nhấn của hội thảo là các ý kiến chia sẻ từ nông dân, những người thụ hưởng trực tiếp từ dự án. Anh Trịnh Thanh Danh, Hợp tác xã (HTX) Nông nghiệp Hiệp Lợi, tham gia mô hình cánh đồng lớn tại xã Mỹ Thuận cho biết, trước khi triển khai dự án, nông dân trong Hợp tác xã không ai dám làm, tôi mạnh dạn đứng ra thực hiện trên 12 hecta để xem như tế nào, nhưng sau vụ đầu tiên lúa trúng, chi phí giảm, tôi mừng lắm. Qua đó, các nông dân cùng HTX thấy hiệu quả và đăng ký diện tích tăng dần đến nay đã đăng ký trên 900 hecta. Tôi nhận thấy khi tham gia cánh đồng lớn sự quan tâm chính quyền địa phương và Trung tâm Khuyến nông tạo điều kiện cũng như mở những lớp tập huấn  để nâng cao năng lực cho nông dân HTX, các cách làm để quản lý được dịch hại, dư luật thuốc bảo vệ thực vật, giảm ô nhiễm môi trường, sản phẩm chất lượng và được những hợp đồng liên kết tiêu thụ càng bền vững.

Nông dân An Giang thực hiện cơ giới hóa trong mô hình cánh đồng lớn

Doanh nghiệp đồng hành cùng nông dân trong sản xuất

Tại hội thảo, đại diện các doanh nghiệp tham gia liên kết cánh đồng lớn, đánh giá cao hiệu quả mà dự án mang lại trong việc ổn định vùng nguyên liệu. Bà Nguyễn Thị Cẩm Hồng, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Nông Phát Đạt, cho rằng mô hình cánh đồng lớn là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào chế biến và mở rộng thị trường. Trong đó vai trò của Trung tâm Khuyến nông điều phối đôn đốc và hỗ trợ trong việc tiêu thụ liên kết bao tiêu sản phẩm.

Doanh nghiệp cần nguồn nguyên liệu ổn định, đồng đều về chất lượng và có thể truy xuất nguồn gốc. Dự án đã giúp hình thành các vùng nguyên liệu đáp ứng được yêu cầu đó, qua đó giảm rủi ro và chi phí cho doanh nghiệp.  Theo bà Hồng, trong bối cảnh thị trường ngày càng đòi hỏi cao về tiêu chuẩn chất lượng và sản xuất bền vững, việc liên kết chặt chẽ với nông dân và hợp tác xã không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn nâng cao uy tín, thương hiệu cho doanh nghiệp. Qua đó, xác định phải đồng hành cùng nông dân, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm. Chỉ khi người nông dân làm ăn có lãi, sản xuất bền vững thì doanh nghiệp mới phát triển lâu dài.

Nông dân An Giang phấn khởi bên ruộng lúa trĩu bông, khi áp dụng các tiến bộ kỹ thuật giảm chi phí, tăng lợi nhuận.

Khẳng định hướng đi đúng đắn

Dự án được triển khai trên tổng diện tích trên 5.582 ha, với 73 cánh đồng lớn, thu hút 2.027 hộ nông dân tham gia. Diện tích và số cánh đồng tăng dần qua các năm, phản ánh sự tin tưởng của nông dân và năng lực tổ chức sản xuất ngày càng được nâng cao của các HTX.

Việc hình thành các cánh đồng quy mô từ 50 ha trở lên đã giúp khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, tạo điều kiện áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật, cơ giới hóa và chuyển đổi số trong sản xuất lúa. Dự án cũng linh hoạt điều chỉnh quy mô qua từng năm, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả thay vì chạy theo số lượng.

Nông dân An Giang ứng dụng cơ giới hóa trong thu hoạch lúa

Một trong những điểm nổi bật của dự án là việc áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa. 100% diện tích sử dụng giống lúa xác nhận cấp 1 như: Đài Thơm 8, OM18, ST25… đáp ứng yêu cầu thị trường và doanh nghiệp tiêu thụ.

Mật độ gieo sạ được giảm dần theo lộ trình, từ dưới 100 kg/ha giai đoạn 2022–2024 xuống còn khoảng 70 kg/ha năm 2025. Nhiều HTX đã áp dụng gieo sạ bằng máy, sạ hàng, sạ bằng drone, giúp tiết kiệm giống, giảm công lao động và tăng độ đồng đều trên ruộng.

Bà Huỳnh Đào Nguyên khẳng định, Dự án “Cánh đồng lớn đáp ứng vùng nguyên liệu và ứng phó biến đổi khí hậu” giai đoạn 2022–2025 đã đạt được những kết quả quan trọng, tạo chuyển biến rõ nét trong tổ chức sản xuất. Dự án không chỉ góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân mà còn từng bước hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, thích ứng với biến đổi khí hậu, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu. Từ những cánh đồng manh mún, rời rạc, nay đã dần hình thành những vùng sản xuất tập trung, liên kết chặt chẽ giữa nông dân – doanh nghiệp – Nhà nước. Đây chính là hướng đi tất yếu, phù hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững và hội nhập sâu rộng của Việt Nam trong thời gian tới.

Bài và ảnh: Trang Nghiêm