Kỹ thuật trồng hoa cúc Pha lê trong chậu

Hoa cúc là một trong những loại hoa được ưa chuộng vào các dịp lễ Tết truyền thống, cũng như các ngày lễ cúng viếng tại Việt Nam. Bên cạnh việc trồng hoa để cắt cành như truyền thống, hiện nay hoa cúc trồng chậu với ưu điểm tươi lâu, thời gian sử dụng dài, đặc biệt là hoa cúc chậu trồng vào dịp Tết Nguyên Đán được nhiều người dân ưa chuộng.

  1. Thời vụ trồng

Thời gian sinh trưởng 80-85 ngày sau khi trồng, tuỳ thuộc theo đặc điểm của từng giống, thời tiết khí hậu của từng năm để bố trí thời vụ trồng cho phù hợp để hoa kịp nở dịp tết. Tại ĐBSCL, thời vụ chính để trồng cúc pha lê thường là vụ Thu Đông, từ tháng 8 đến đầu tháng 10 âm lịch) để hoa ra bông vào đúng dịp Tết Nguyên Đán.

  1. Tiêu chuẩn cây giống

Giống hoa cúc Pha Lê mua cây giống từ các cơ sở nhân giống hoa cúc uy tín để có được cây giống trẻ về tuổi sinh lý và mập khỏe, sạch bệnh, chiều cao cây đạt 5-7 cm, cây con có 5-7 lá, đường kính thân khoảng 0,2 cm, rễ dài > 4 cm là phù hợp để trồng vào chậu.

  1. Chuẩn bị giá thể trồng chậu

Giá thể trồng hoa gồm: 1/3 đất thịt + 1/3 phân chuồng hoai mục hoặc phân hữu cơ vi sinh + 1/3 trấu hun, mùn cưa hoặc xơ dừa (đã xả sạch chất chát). Giá thể được ủ với nấm Trichoderma, tưới đủ ẩm cho giá thể, độ ẩm khoảng 65-70%) trong 25-30 ngày trước khi trồng cây. Giá thể khi trồng cần phải đảm bảo hoai mục, tơi xốp, có khả năng giữ nước và thoát nước tốt, sạch nấm bệnh và vi khuẩn.

  1. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

Chọn chậu hoa: Chậu nhựa đường kính 25-30 cm, 45-50 cm, 65-70 cm, chiều cao 20 cm trở lên.

Cách trồng: Cho giá thể vào chậu cao cách miệng chậu 5 cm. Trồng xoay vòng từ mép chậu vào trong, cây cách cây 5-6 cm, trồng các cây sao cho cây phân bố đều xung quanh chậu để tán cây đều, không trồng cây quá sát vào thành chậu. Nên trồng cây vào buổi chiều, sau khi trồng tưới đẫm nước. Xếp chậu cách chậu 10-15 cm. Sau trồng tưới nước để rửa trôi các giá thể dính trên lá. Sau khi trồng cần kê cao chậu hoa lên để cây tránh bị ngập nước. Khi mới trồng xong để cây dễ bén rễ hồi xanh nên tưới nước 02 lần/ngày. Sau đó, tuỳ điều kiện thời tiết, tưới nước để duy trì ẩm độ đất 65-70% để cây sinh trưởng phát triển tốt.

  1. Kỹ thuật bón phân

Bón phân cung cấp dinh dưỡng thiết yếu cho cây phát triển và ra hoa. Giai đoạn bón phân được chia làm 03 đợt chính: Giai đoạn cây con (1-2 tuần sau trồng); Giai đoạn sinh trưởng thân lá (sau 2 tuần đến khi cây bắt đầu có nụ); Giai đoạn ra nụ và nở hoa. Phân bón khuyến cáo như sau:

Giai đoạn cây con (1-2 tuần sau trồng): Sau khi trồng 5-7 ngày tưới bổ sung phân bón như: phân DAP (ngâm 700 – 1.000 g với 500 L nước để tưới cho 1.000 chậu + kích rễ…) Định kỳ 10 ngày tưới 01 lần hoặc tưới loại phân bón: Humic, siêu lân, phân NPK 30-15-10 + TE,… để kích thích cây ra rễ, giúp cây bén rễ hồi xanh, sinh trưởng và phát triển tốt hơn. Liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì. Ngoài ra, nếu cây con còn yếu có thể dùng thêm chất kích thích sinh trưởng Atonik 1,8DD phun ướt đẫm cho cây với liều lượng 10ml/bình 8 lít nước, 10 ngày phun một lần để bổ sung dinh dưỡng cho cây giúp cây ra rễ mạnh, sinh trưởng phát triển tốt.

Giai đoạn ra nụ và nở hoa: Sử dụng phân NPK 20-20-15 liều lượng 3-4 kg để tưới cho 1.000 chậu. Khi nụ hoa bằng hạt tiêu thì tiến hành tưới phân. Sau khi tưới phân nên tưới lại nước cho cây để tránh hiện tượng phân còn dính trên lá, gây ra cháy lá. Nếu nụ bông thời điểm này to hơn hạt tiêu thì hoa lớn, dự báo hoa nở sớm cần bổ sung phân cá để cây non lại, làm chậm thời gian hoa nở. Nếu nụ hoa nhỏ hơn hạt tiêu hoặc cây chưa tạo nụ thì cần bổ sung các loại phân bón chứa Kali để tưới bổ sung (từ 1-3 lần, mỗi lần cách nhau 4-5 ngày), hoặc có thể phun qua lá phân MKB, phân bón lá NKP  10-60-10 + TE, NKP 6-30-30 + Te để tạo mầm hoa.

Lưu ý: Luôn bón phân khi đất ẩm, tránh bón vào lúc nắng gắt. Tưới nước ngay sau khi bón phân hạt để phân tan và ngấm vào đất, tránh làm cháy rễ. Không bón phân quá liều lượng khuyến cáo vì có thể làm cây bị sốc. Có thể kết hợp bón phân hữu cơ hoai mục quanh gốc để cung cấp dinh dưỡng bền vững, cải thiện độ phì nhiêu của đất. Bón phân vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối. Thời điểm cây ra hoa cần chú ý đến phòng ngừa rầy mềm, sâu ăn bông… cần phòng ngừa thật kỹ vì sâu giai đoạn này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoa, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế. Chú ý luân phiên thay đổi thành phần giữa 2 lần phun liên tiếp, tránh kháng thuốc.

  1. Kỹ thuật tạo dáng chậu

        – Cơi đọt: Tiến hành cơi đọt lần thứ nhất 10-12 ngày sau khi trồng, ngắt cơi lần thứ hai sau khi cơi đọt lần thứ nhất 20 ngày. Chú ý: Ngắt tất cả các đọt của tất cả các cây trong cùng một chậu vào cùng một thời điểm để cây ra chèo, nhánh đồng đều… Các cây phía trong ngắt cao hơn các cây phía vòng ngoài 1 tầng lá. Ví dụ: vòng trong khi ngắt đọt chừa 6 lá thì phía vòng ngoài nên chừa 6 lá để chậu cúc có tàn hình nón lá, nhìn chậu sẽ thẩm mỹ hơn. Phần ngọn cây cơi 01 sau khi ngắt đọt có thể tận dụng ghim lại làm giống cho đợt tiếp theo. Sau khi bấm ngọn, chú ý phun thuốc để phòng trừ nấm bệnh cho cây.

        – Cắm tăm: Sau khi cây cúc đạt chiều cao khoảng từ 35 – 40 cm ta bắt đầu cắm tre định hình chậu cúc.

       – Ngắt nụ, tỉa cành: Để hoa to và nở đồng loạt, cần thường xuyên tỉa bỏ các nụ và chồi bên. Thời gian ngưng thắp đèn đến khi tiến hành ngắt nụ khoảng 6 tuần, đối với hoa cúc chỉ lấy một bông cần tiến hành ngắt bỏ các nụ và những cành phụ, để lại nụ chính giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi nụ chính.

  1. Phương pháp thắp đèn để điều tiết sinh trưởng cho cây

Giống hoa cúc có phản ứng sinh trưởng mạnh với ánh sáng, do vậy khi mới trồng, gặp điều kiện ánh sáng ngày ngắn vào các tháng 9, 10, 11, 12 làm hoa cúc dễ ra hoa, ra hoa sớm, giảm chất lượng cành hoa. Để khắc phục hiện tượng này, khi trồng cúc vào vụ Đông Xuân cần thắp đèn bổ sung ánh sáng cho cây vào ban đêm. Nên thắp đèn ngay sau khi trồng và chiếu sáng liên tục từ khi trồng đến khoảng trước tết 44 – 45 ngày ngày thì ngưng chiếu đèn để hoa chuyển sang giai đoạn làm nụ. Sử dụng bóng điện 75-100 W để chiếu sáng thêm 3-4 giờ vào lúc chiều tối (17-21 giờ) hoặc lúc nửa đêm (21-24 giờ), cứ 6m2 đặt 01 bóng, chiều cao bóng đèn cách ngọn cây 1,8-1,2 m, đèn cách đèn 2-2,5m. Một số loại bóng để chiếu sáng: bóng huỳnh quang 20w, bóng đèn led, đèn compact…

  1. Biện pháp phòng trừ một số sâu bệnh hại chính

6.1 Nhện đỏ hai chấm (Tetranychus urticae): Gây hại trên lá và hoa. Nhện tập trung chích hút nhựa tại các chóp lá, làm lá bị khô đen. Trên hoa, nhện tập trung ở mặt trong của các cánh hoa, gây ra nhiều vết chích nhỏ màu nâu rất điển hình. Gây hại rất quan trọng đến giá trị thành phẩm của cây.

Phòng trừ: Nhện đỏ có kích thước rất nhỏ, do đó cần thường xuyên thăm vườn và quan sát kỹ để phát hiện chúng. Thường xuyên tưới đủ nước cho cây trong ngày nắng để tránh cho cây bị khô hạn. Phun thuốc ở mặt dưới lá, có thể sử dụng dầu khoáng kết hợp các loại thuốc hoạt chất như Abamectin, Hexythiazox, Propargite, Pyridaben.

6.2 Bọ trĩ (Microcephalothrips abdominalis): Gây hại chủ yếu trên lá non, chồi non và hoa, từ giai đoạn búp đến hoa nở làm ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị thành phẩm của hoa.

Phòng trừ: Sử dụng bẫy màu vàng để phát hiện sớm bọ trĩ. Khi mật số bọ trĩ cao, có khả năng gây hại đến giá trị thành phẩm của hoa, thì cần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ. Sử dụng thuốc 3 đợt liên tiếp, mỗi đợt cách nhau 5 ngày. Hiện nay, có thể sử dụng các loại thuốc hoạt chất như Abamectin, Pyridaben, Fenobucarb, Spinosad, Beauveria bassiana…Luân phiên các loại thuốc có hoạt chất khác nhau để tránh kháng thuốc.

6.3 Sâu ăn tạp (Spodoptera litura): Sâu gây hại cả trên lá và trên hoa. Sâu mới nở sống tập trung và ăn phần biểu bì dưới mặt lá, làm cho lá mỏng đi thành từng mảng rất đặc trưng. Ở giai đoạn tuổi lớn, sâu gây hại cả trên nụ và hoa. Sâu ăn rất mạnh, khi mật số cao có thể ăn trụi cả lá.

Phòng trừ: Vệ sinh vườn trước và sau khi trồng. Khi mật số thấp nên tìm diệt ổ trứng và sâu non bằng tay. Khi mật số sâu cao, sử dụng các thuốc ít độc thuộc các nhóm abamectin hoặc thuốc sinh học (thuốc BT, NPV).

6.4 Rệp sáp (Phenacoccus solenopsis) và Rầy mềm đen (Macrosiphoniella sanborni): rầy, rệp chích hút trên đọt non và các lá gần đọt làm lá bị quăn queo, biến dạng, sinh trưởng và phát triển bất thường. Rầy mềm là tác nhân truyền bệnh khảm lá cho cây hoa cúc. Rệp sáp là tác nhân gây xuất hiện nấm bồ hóng gây hại làm đen kín toàn bộ lá, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và quang hợp của cây.

Phòng trừ: Để phòng trừ rệp sáp cần áp dụng các biện pháp tổng hợp như vệ sinh vườn, loại bỏ các cây bị nhiễm nặng, bảo tồn các loài thiên địch trên vườn. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi mật số rầy, rệp sáp cao, có thể sử dụng các loại thuốc hoạt chất như Spinetoram, Cyromazine, Thiamethoxam …

6.5 Bệnh phấn trắng (nấm Oidium chrysanthemi gây ra): Bệnh xuất hiện ở giai đoạn cây con khi ẩm độ, nhiệt độ vườn quá cao. Lá bệnh bị phủ phấn màu trắng, làm giảm quang hợp và cây kém phát triển.

Phòng trừ: Nên sử dụng nguồn cây giống có nguồn gốc rõ ràng, sạch bệnh. Khi bệnh xuất hiện cần cắt bỏ lá bị bệnh và tiêu hủy ngay, sau đó phun thuốc bảo vệ thực vật hoạt chất Hexaconazole, Triforine, Triflumizole,…

6.6 Bệnh thán thư (do nấm Colletotrichum spp. gây ra): Vết bệnh thường có hình dạng tròn đồng tâm hoặc bất định, thường bệnh bắt đầu từ 2 bên mép lá, sau đó lan rộng vào trong phiến lá, khi vết bệnh phát triển rộng. Bệnh phát triển mạnh khi cây bón nhiều phân đạm và ẩm độ cao, khi thời tiết ẩm ướt, vết bệnh thường phát triển to và nhũn nước.

Phòng trừ: Cần phải sử dụng giống kháng bệnh hoặc cây con sạch bệnh. Tránh bón thừa phân đạm, không tưới nước quá nhiều làm đọng nước trên bề mặt lá. Thường xuyên cắt tỉa cành để tạo sự thông thoáng cho cây, vệ sinh vườn và thu gom tiêu hủy ngay các lá bệnh. Khi cây mới bệnh, ngưng bón phân, hạn chế tưới nước, cách ly cây bệnh và có thể sử dụng một số loại thuốc bảo vệ thực vật hoạt chất Tricyclazole, Carpropamid, Azoxystrobin, Difenoconazole,…

6.7 Bệnh héo xanh: (do vi khuẩn Ralstonia solanacearum, gây ra) bệnh thường xuất hiện vào giai đoạn sinh trưởng đến khi ra hoa. Khi bị bệnh các lá non thường bị héo trước vào buổi trưa và tưới lại vào buổi chiều tối. Triệu chứng này rất dễ nhầm lẫn với cây bị thiếu nước. Triệu chứng héo và chết cả cây thể hiện nhanh sau 1-2 ngày, nhưng lá vẫn còn xanh, xuất hiện nhiều sọc nâu trên thân sát mặt đất, khi chẻ dọc thân cây và cho vào nước trong, vi khuẩn sẽ tuôn ra từ mạch dẫn và làm cho nước trở nên đục.

Phòng trừ: Bệnh rất khó trị, chủ yếu là phòng bệnh. Biện pháp hữu hiệu là sử dụng giống kháng bệnh, luân canh cây trồng. Nguồn nước tưới và giá thể trồng phải sạch bệnh, khi chăm sóc tránh tạo vết thương cho cây. Khi phát hiện bệnh, cách ly cây bệnh hoặc tiêu hủy ngay để tránh lây lan và có thể sử dụng một số loại thuốc bảo vệ thực vật đặc trị vi khuẩn như hoạt chất Kasugamycin,…

Lưu ý: cần áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) cho cây hoa cúc nhằm đảm bảo hiệu quả kiểm soát đồng thời giảm thiểu tác động xấu đến môi trường và sức khỏe con người.

Bài và ảnh: Phạm Thị Duyên